Tản văn: Nằm võng thì phải đu đưa

 

Huỳnh Kim Bửu

             Tản văn  Nằm võng
                             
thì phải đu đưa

                                     

           Có lẽ câu ca dao câu hát ru:

 "Đêm nằm võng rách còng queo

Bá hộ tới nói chê nghèo không ưng"

đã cực tả cái tính ưa thích nằm võng của bao người?

          Người ta thích nằm võng từ lúc nào? - Hình như từ lúc mấy thằng nhóc con ra vườn téc cái bẹ chuối xanh treo giữa hai gốc ổi rồi thay phiên nhau ngồi lên đu đưa? Hình như từ lúc mấy anh câu sông câu mương ngồi ôm cần lâu mỏi lưng mỏi gối bèn đổi tư thế leo nằm trên chùm rễ phụ của bụi rù rì bên bờ nước để vừa nghỉ ngơi vừa nhắp cần câu?

          Bao nhiêu đó nghĩ cũng đủ nẩy sinh ra cái ý tưởng làm chiếc võng đu đưa. Ở vùng quê Phủ An đi vào các làng quê người ta dễ gặp những hộ gia đình làm võng. Đàn ông đi thu gom nguyên liệu (thơm tàu xơ dừa...) phụ nữ chế biến (ngâm nguyên liệu kéo xe dây đánh sợi) rồi đan thoăn thoắt chiếc võng mới giống như người đan len ta thường thấy. Đan chừng 1 ngày rưỡi thì xong một cái võng 20 tao 2 ngày xong một cái võng 30 tao 2 ngày hơn xong chiếc võng 40 tao. Người thợ khéo tay nghề làm nên chiếc võng đẹp mắt võng đều võng cân bằng nằm lên không nghiêng không đổ. Các làng võng nổi tiếng là An Ngãi Phò An (An Nhơn) Bồng Sơn Tam Quan (Hoài Nhơn)... Có câu ca dao lưu truyền:

 "Anh đi chợ võng Tam Quan

 Mua võng thơm tàu chỉ mất ba quan

Nhà em ở xóm Cây Bàng

Sang chơi ngó hướng ngọn bàng mà sang".

           Chợ Tam Quan bán nhiều võng dừa (vì đây là xứ dừa: Công đâu công uổng công thừa / Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan - Ca dao) nhưng cũng nổi tiếng võng thơm tàu con gái Tam Quan nổi tiếng giọng nói ngọt lịm như nước dừa lửa Tam Quan. Từ chợ Phủ đến các chợ quê chợ nào chẳng có hàng võng. Mặt hàng võng khá phong phú. Phân loại theo nguyên liệu có võng thơm tàu võng trân võng xơ dừa... theo kích thước phải kể võng đơn (20 - 30 tao) võng đôi (40 tao) theo màu sắc có võng nhuộm điều võng nhuộm tía. Nghề làm võng là nghề phụ của nông dân và bao đời họ vẫn nghèo. Nhưng nghề buôn bán võng cũng làm nên phát đạt cho nhiều người như các ông Tàu Bằng Tàu Hữu ở chợ Đập Đá; Bảy Ngon Tám Ngót ở chợ Cây Bông... Từ chiếc võng đan sợi dây thơm tàu sợi dây xơ dừa có thể đã kéo dài ngàn năm (nếu không thì đã không vào ca dao tục ngữ) ngày nay người ta tiến lên võng dây cước võng dây dù võng dây nhợ võng vải ... Cái võng từ trước đến giờ có xu hướng ngày càng gọn nhẹ càng tiện lợi. Thời chiến tranh bộ đội ngủ rừng trên võng võng cũng là hành trang người lính Trường Sơn xưa. Võng tiện lợi là võng có bộ khung riêng cơ động và đang được người thành phố ưa chuộng. Nhưng khi nó được cái tiện lợi di chuyển thì cái thú đu đưa thỏa thích cũng giảm đi nhiều.

         Muốn nằm võng êm mà thoáng thì sắm võng thơm tàu. Nằm võng trân võng dây nhợ để lằn trên da thịt. Võng vải không thoáng nằm võng xơ dừa bị xót. Hồi nhỏ mỗi lần ngứa lưng tôi vẫn chạy tới võng (gặp võng xơ dừa càng tốt) hai tay túm lấy chùm tao võng mà xát lưng lia lịa liền được đã ngứa. Nằm võng phải đu đưa đu đưa là thú nằm võng. Tuổi ấu thơ ai chẳng từng nằm võng và từng nghe tiếng võng đưa kẻo kẹt và câu hát ầu ơi của mẹ ru giấc ngủ? Người già nằm võng đơn. Cặp vợ chồng trẻ nhiều khi nhân lúc vắng nhà chất hết lên võng đôi đu đưa cái ước mơ hạnh phúc đôi lứa của mình. Có ai ngờ đâu cái võng đo được sự xứng đôi vừa lứa của một cặp vợ chồng:

"Chồng còng lấy phải vợ còng

Nằm võng thì chật nằm nong thì vừa" (Ca dao)?

          Võng cũng là một loại "phương tiện giao thông" của thời xưa như con ngựa cưỡi cỗ xe ngựa chiếc xe kéo... Ở các làng quê quan hưu trí thầy thư lại tổng lý bá hộ... khi đi đâu ngồi cáng cho người khiên. Cáng là võng nhưng có mái che giống như sõng úp để che mưa nắng có treo rèm màn ở xung quanh có đòn khiên sơn son hai đầu chạm rồng rắn thiếp vàng... Đi theo sau cáng của các ông thường có võng điều võng tía của các bà các tiểu thư. Nhờ giàu trí tưởng tượng thi sĩ còn có võng gió nữa:

 "Hồn trong võng gió mát như ôm" (Xuân Diệu - Tâm sự với Quy Nhơn).

           Bởi cứ quan niệm được đi võng là sang trọng cho nên người ta mới đem võng rước thầy thuốc thầy giáo rước bậc trên mình... Dân gian Bình Định vẫn có câu nói: "Có đem võng mà rước ông chưa thèm đi" được áp dụng trong một số trường hợp. Bà tôi vẫn kể cho con cháu nghe: "Hồi xưa anh nho sinh Nghi đi ra kinh dự thi đỗ Tiến sĩ. Hôm anh trở về được làng mang cờ quạt lên tận trên Phủ rước còn vợ chồng Tân khoa thì: Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau hiển vang lắm". Hình như bà tôi muốn "khuyến học" lũ con cháu của bà. Còn chuyện ông giáo già trường làng An Định hay kể cũng thật hấp dẫn: "Hồi nghĩa quân Mai Xuân Thưởng đánh nhau với quân Pháp thì cái võng tải thương là xe Hồng Thập Tự của mình đó. Tụi lính Pháp bị thương được Pháp chở trên xe Hồng Thập Tự hụ còi inh ỏi chạy về Quy Nhơn còn nghĩa quân bị thương mình võng về hậu phương điều trị còn nhanh hơn tụi Pháp". Hồi 9 năm kháng chiến ở quê tôi có Bệnh viện Song Thanh (Bệnh viện Quy Nhơn dời lên). Hàng ngày tôi thấy người dân ở các làng quê võng bệnh nhân chạy trên các đường làng.   

         Võng thường cột ở nhà trên nhà cầu nối nơi hóng được ngọn gió mát. Võng mới võng lành thì mắc trong nhà võng cũ đem cột ngoài hiên ngoài vườn cho có lúc ra nằm chơi. Võng được ưu tiên cho chủ nhà người cao tuổi em thơ bà ru cháu. Chị vú ru em bõ già dỗ con chủ có võng ở nhà dưới. Khách qúy đến chơi thường được chủ nhà mời nằm võng. 

.        Trong chuyến về nước cuối cùng của Nguyệt tôi đã đưa Nguyệt đi xem một phòng triển lãm ảnh nghệ thuật. Chúng tôi được xem mấy bức ảnh chụp ông cụ già nằm võng đọc sách chữ Nho; ảnh chụp vị thiền sư ngồi võng có con chim hồng hạc đứng bên hầu ảnh đen trắng chụp thiếu nữ nằm võng ngủ ngày tóc dài như suối chảy tới đất... Xem xong các tấm ảnh Nguyệt tỏ rất vui và bảo: "Những tấm ảnh đó đã gây cho chúng mình nhiều rung động thẩm mỹ về hồn quê hồn Việt phải không anh?".

Khải Nguyên

Những cây viết tản văn tạp bút nổi tiếng ở Việt Nam có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Viết tản văn thường dùng lối tự sự viết mà như kể như tả nội dung ẩn chứa tính triết lý sâu xa nhiều thâm thúy mang sắc thái biểu cảm chân thành của chủ thể (người viết).

KN đã nhận đã đọc một số tản văn của tác giả Huỳnh Kim Bửu. Rất muốn đưa lên trang blog của mình với một thái độ trân trọng nhưng không thành vì do lỗi fone chữ. Đã đưa nhưng bạn đọc không đọc được KN cứ tiếc mãi... mà ngồi gõ thì thực sự là dịp cuối năm KN không có nhiều thời gian.

Lý giải căn nguyên yêu thích tản văn Huỳnh Kim Bửu bởi một điều đơn giản thôi vì KN là dân nghiên cứu văn hóa dân gian. Đọc CHÕNG TRE TRE BÀ TÔI ĂN TRẦU CHA CON ÔNG THỢ KHÉP CỐI XAY LÚA và NẰM VÕNG THÌ PHẢI ĐU ĐƯA... đó không chỉ là những bút ký tản văn tạp bút hay mà còn là những công trình nghiên cứu văn hóa dân gian rất đặc sắc thể hiện sự nghiên cứu có khoa học có đúc kết có diễn trình khảo tả đến từng chi tiết. Chắc hẳn vì quá yêu quá say mê văn hóa quê mình mà tác giả đã nắn nót bài trí những con chữ bằng tất cả niềm xúc cảm của mình để dệt nên những áng văn đi vào lòng người sâu sắc và tròn trịa như thế chăng?

Mạn phép tác giả ở tản văn này để KN xin được thử góp bàn một ý nhỏ vừa chợt đến: hình như người Việt ta sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa thời tiết nóng ẩm mưa nhiều... lắm muỗi nhiều ruồi và cả những con rĩn cứ vo ve quấy nhiễu thật khó chịu... nên ông bà cụ kỵ ta từ thuở xa xưa mới nghĩ ra chuyện "nằm võng" để còn "đu đưa" nhằm xua đuổi giống côn trùng kia đấy nhỉ? Và hình như cả chuyện ăn nằm ngủ nghỉ... người Việt ta cũng vì "khó" mà "ló" những cái "khôn" như đã từng gắp thức ăn bằng đũa nằm đầu hiên đón gió nồm Nam bằng chõng tre phe phẩy cái quạt mo cau để vơ về chút gió trời ngày hạ?!?