Tản văn Những cuốn sách và nông dân xưa

By Huỳnh Kim Bửu

 

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

 

Những cuốn sách và nông dân xưa

                                      

 

          Ngày xưa cái học “thiên kinh vạn quyển” chắc là cái học ở chốn kinh thành ở nơi có các trường thi dành cho các sĩ tử “cướp cờ cướp biển” như ở quê tôi có trường thi Hương Bình Định. Chứ còn ở các vùng nông thôn thì cái học trường lớp hiếm hoi lắm số người đi học ít mà sách cũng ít.

         Sách Tam thiên tự (tác giả Đoàn Trung Còn) dạy vỡ lòng chữ Nho. Trẻ con nông thôn học ông thầy đồ ở trong làng sách Tam thiên tự với những câu: “Thiên – trời địa – đất cử - cất tồn – còn tử - con tôn – cháu”…Ai học hết sách thì có vốn 3000 từ làm “hành trang” buổi đầu đi học. Nhiều trẻ con học chưa hết sách đã phải nghỉ học vì nhà nghèo cần ở nhà giúp đỡ cha mẹ. Những trẻ này tới khi lớn lên thành anh trai làng bác nông dân nhờ chút học đó mà không bị xấu hổ vì: Không biết được chữ Nhất là một.

         Tam tự kinh (Sách ba chữ do Vương Ứng Lân Trung Quốc biên soạn) tập hợp những tinh hoa của Nho giáo. Ở trong các làng quê xưa nhiều bác nông dân vừa mới rửa chân tay cho sạch bùn đất để đi ăn giỗ nhưng đã ngồi vào cỗ là “nói chữ” “xổ Nho”: từ “Nhân chi sơ Tánh bản thiện. Tính tương cận Tập tương viễn” (Người thuở đầu tánh vốn lành. Tánh nhau gần thói nhau xa.)…đến “Dưỡng bất giáo Phụ chi quá Giáo bất nghiêm Sư chi đọa”: (Sinh không dạy lỗi ở cha. Dạy không nghiêm lỗi tại thầy). Cảnh ngồi cỗ giỗ mà đối đáp rượu vào lời ra thế cũng vui thường khi làm được việc giáo hóa điều gì đó.  Từ “xổ Nho” (cũng nói xổ Nho chùm) cũng có ý thầm phục: Các vị có học đàng hoàng có Hán rộng!

          Sách Minh tâm bảo giám (tác giả Trương Vĩnh Ký) được nông dân thích học cứ bảo: “Đó là gương báu soi lòng”.  Nhiều câu trong sách Minh Tâm nghe nói hoài giống như ăn cơm bữa và sớm nhập tâm trở thành nếp sống nếp nghĩ của mọi người: “Tích thiện phùng thiện tích ác phùng ác Thiện hữu thiện báo Ác hữu ác báo” (Chứa lành thì gặp lành chứa ác gặp ác. Thiện có lành báo ác có dữ báo). Rồi những câu khuyên dạy: “Phàm nhơn bá nghệ hảo tùy thân / đổ bác môn trung mạc khứ thân / năng sử anh hùng vi hạ tiện/ giải giao phú quý tác cơ bần”…(Hễ biết nghề nào cũng ấm thân. Mấy nơi cờ bạc chẳng nên gần.  Anh hùng mắc phải ra hèn hạ. Phú quý lâm rồi lại khó khăn)… Rất phổ cập đến thành bài học thành “câu hát” mùi mẫn ở trong các làng quê.

           Trên là những sách “giáo khoa” nông dân ít nhiều có thời trẻ thơ được học với ông thầy đồ hoặc với cha anh ở nhà.

          Tứ thư Ngũ kinh là những sách dành cho nho sĩ. Những nho sinh sĩ tử có mộng khoa danh thì cố “ôn nhuần kinh sử”. Còn đa số nông dân nhờ cuộc sống làng quê có sự chung đụng giữa nho sĩ và nông dân mà kiến thức được chia sẻ cho nhau. Nông dân vẫn “nói chữ”: “Quân quân thần thần phụ phụ tử tử” (Vua -  tôi cha – con ai có bổn phận nấy - Luận ngữ ) mỗi khi muốn nhắc nhở cái bổn phận phải lo cho tròn cái quan hệ kỷ cương phải giữ. Ngoại tôi là nông dân ông đã chọn một câu hay trong Kinh Thi: “Quan Quan Thư Cưu Tại Hà Chi Châu Yểu Điệu Thục Nữ Quân Tử Hảo Cầu” (Chim thư cưu kêu quan quan… trên cồn sông Hoàng Hà. Gặp người gái đẹp quân tử phải lòng) mà đặt tên cho các người con của Ngoại. Ngoại có 16 người con trai gái má tôi thứ 8 xinh đẹp trúng tên Châu: Nguyễn Thị Minh Châu cũng đẹp.

         Sau này hết thời chữ Hán lâu đến ngàn năm bước sang thời chữ Quốc ngữ mới ra đời.

         Đại Nam quốc sử diễn ca (của Phạm Đình Toái) được dạy ở trường Tiểu học. Vẫn thường vang vọng trong xóm thôn tiếng ôn tập bài học của các học trò trường Huyện. Khi thì: “Hùng vương đô ở Châu Phong / Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang / Đặt tên là nước Văn Lang / Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền…”.  Khi thì: “Bà Trưng quê ở Châu Phong / Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên / Chị em nặng một lời nguyền…”.  

         Đến sách Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT – nhóm ông Trần Trọng Kim biên soạn) được những “nông dân” ấu thơ học với cả lòng hứng thú. Bài nào học cũng mau thuộc mau nhớ. Bài Rắn đầu biếng học (của Lê Quý Đôn): “Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà! / Rắn đầu biếng học quyết không tha / Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ / Nay thét mai gầm rát cổ cha…” là một trong những bài trong sách được học một lần là nhớ cả đời. Người ta nói có “tình nghĩa giáo khoa thư” để chỉ cho tình bạn tình huynh đệ giữa những người cùng học chung cuốn sách đó. Chẳng bao lâu những chú bé học trò ngày trước học QVGKT trở thành các bác nông dân thuộc sử nước nhà biết cảm thụ biết thế nào là một bài văn hay.

        Từ nhỏ tới lớn ta vẫn nghe ông cha cứ dặn bảo “Học làm người” bài học cần học cả đời. Và ai cũng biết cái phẩm chất bao trùm của làm người là hiếu thảo cho nên những nhà chứa sách (tích thư) đều có cuốn Nhị thập tứ hiếu (tác giả Lý Văn Phức). Bác nông dân nhân khi nhàn rỗi vẫn ngồi đó “giảng sách” Nhị thập tứ hiếu cho con cháu nghe mà cũng là dịp cho chính mình ôn lại: “Người tai mắt đứng trong trời đất / Ai là không cha mẹ sinh thành / Gương treo đất nghĩa trời kinh / Ở sao cho xứng chút tình làm con…”…vẫn kể rành rẽ 24 gương hiếu cảm động trời đất được ghi trong sách cũng như được truyền khẩu trong dân gian. Trong xóm thôn những nhân vật Tử Lộ Mẫn Tử Khiên… hình như ai cũng biết.

         Bên cạnh cuốn Nhị thập tứ hiếu trên giá sách của các gia đình còn có quyển Gia huấn ca. Từ khi quan đại thần Nguyễn Trãi viết Gia huấn ca trong cả nước (Đại Việt hồi đó nước Việt sau này) thì nhà nhà đọc nhà nhà dạy Gia huấn ca. Người ta hứng hát ngồi không với nhau hát: “Đặt quyển sách vắt tay nằm nghĩ / Hễ làm người dạy kỹ thì nên”. Người nông dân vẫn bảo “Dạy con từ thuở còn thơ…”. Thực là ông cha ta đã đề cao vai trò quan trọng bậc nhất của giáo dục.

       Tuy không thiên kinh vạn quyển như đã nói nhưng bằng mấy cuốn sách đó kết hợp với kinh nghiệm bản thân nông dân đã nâng cao kiến thức học được bao điều lợi ích. Không ai nghi ngờ chuyện nông dân thuộc Sử Việt trong tâm thức nông dân có niềm tự hào lịch sử nước nhà có Bà Trưng Bà Triệu Ngô Quyền Lê Lợi Quang Trung…Nông dân không cục mịch như người ta tưởng mà trái lại họ có một tâm hồn đa cảm luôn tìm đến với văn chương – nghệ thuật. Người ta vẫn ham thích đọc tiểu thuyết chương hồi (Trung Quốc) văn biền ngẫu truyện cười dân gian… bằng cách ai biết chữ thì đọc ai không biết đọc biết viết thì nhờ con cháu đọc cho nghe. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn viết về phong tục chuyện tình đôi lứa không thành; thơ Tiền chiến viết về đồng quê của Nguyễn Bính Anh Thơ Đoàn Văn Cừ… vẫn đem lại sự yêu thích cho các nông dân biết đọc biết viết. Nông dân ta chẳng những đọc sách “giảng sách” “nghe sách” mà còn là người sáng tác nữa. Ca dao dân ca hò vè …là sáng tác đầy hứng thú từ những tâm hồn yêu thương trong trẻo của nông dân.

      Bây giờ xin hỏi nhờ đâu mà những cuốn sách xưa phổ cập tới những người nông dân sống trong các làng quê hẻo lánh như vậy? Chắc là trong các nguyên nhân được nêu ra có nguyên nhân tôi cho không thể thiếu: Đó là sách hay sách đem lại cho người ta cái thú đọc sách.

      Ngày nay có ai về nông thôn (giữa thời buổi nhiều sách báo có tủ sách xã thôn) mà tìm một nông dân thuộc năm ba câu Kiều vài đoạn Lục Vân Tiên biết chuyện Nỏ thần An Dương vương Thánh Dóng…để cùng nhau hào hứng “trà dư tửu hậu” thì thật khó quá. Cái “thú đọc sách” (Trước đèn xem truyện Tây Minh – Lục Vân Tiên) cái từ “nghe sách” “giảng sách” rất quen hồi xưa nay cũng không còn trông thấy nghe thấy nữa.

 

H. K. B

 

        

More...

Tản văn Chuột - người - chuột

By Huỳnh Kim Bửu

 

 

Tản văn Huỳnh Kim Bửu

 

 

Chuột - người – chuột

 

 

 

 

 

 

          

          Chuột sinh ra đời liền bị nhiều kẻ thù: Mèo vồ chó chụp sa bẩy trúng thuốc độc… Ngành Thú y bào chế thuốc chữa bệnh thuốc bổ cho bò heo gà vịt… Nhưng lại có lọ thuốc diệt chuột (xếp cùng một góc với lọ thuốc trừ sâu…). Chẳng biết bởi duyên nợ gì mà chuyện chuột với người nhiều lắm? Nhất là với quan tham cho nên bài này xin tản mạn một chút về chuột.  

 

         Chuột là loài đục khoét phá hại. Đục khoét phá hại là chuyện thường ngày của chuột khiến người nhiều khi không chịu nổi. Đó là chưa nói nếu người không giỏi dự phòng nó còn truyền bệnh dịch hạch rất đáng sợ nữa.

         Nhưng mà chuột cũng có lợi ích cho người ở mặt nào đó chứ?

        Y tế thế giới đã làm hàng loạt các xét nghiệm trên chuột (không có con vật nào thay được chuột mà tốt hơn) để tìm ra thuốc chữa bệnh thường là những bệnh nan y của người. Nhờ đó ngành y tế thế giới đã chữa khỏi cứu sống hàng triệu con người. Nuôi chuột bạch cũng là cái thú chơi của không ít người. Nhiều thực khách đã dám chắc rằng ăn thịt chuột xào lăn quay nướng vừa thơm vừa ngon chẳng hề thua kém thịt gà.

 

        Đời “bất hạnh” của chuột sao giống với thân phận đáng thương của dân đen một tầng lớp người dưới đáy xã hội.

        Nhà văn Mỹ John Steinback viết tiểu thuyết Của chuột và người rất được nổi tiếng. Trong tiểu thuyết chuột trở thành con vật gần như bạn của nhân dân lao động những người nghèo khổ cùng cực. Ai xem tranh Đông Hồ - Đám cưới chuột cũng dễ nhận thấy một tố cáo rằng dân đen (chuột) cần làm gì (dẫu là một đám cưới thuộc chuyện bách niên) nếu không đem lễ vật (chim cá…) đút lót cho quan trên (mèo) là không được phép không yên đâu. Thường thì chuột đói trốn tránh trong hang sâu xó tối bữa nào được ăn no là nhờ gặp may (sa bồ nếp hoặc rớt chĩnh gạo). Bài học chuột gặp may đã khiến cho “người quan sát” Lý Tư biết chọn con đường cho sự nghiệp của mình: Bỏ sáu nước đi theo nước Tần giàu mạnh nhất. Nhờ đó ông lấy tài trí và khôn ngoan của mình giúp Tần lập được công làm tới chức Thừa tướng hưởng vinh hoa phú quý không ai bằng và cũng để cho đời cái danh lạ lùng:“Chuột Lý Tư” (1).   

         Ở trong các làng quê có những lúc vì chuột phá hại mùa màng ghê lắm làng xã phải hô hào diệt chuột tận hang sâu treo giải thưởng cho ai diệt được nhiều chuột. Nhưng ở một thời mà nạn tham nhũng trở thành “quốc nạn” người ta cũng khéo mượn chuyện diệt chuột để hô hào diệt bọn quan tham đang làm cho nước yếu dân khổ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu (thế kỷ XIX) viết “Thảo thử hịch” (bài Hịch dịch chuột) để hô hào diệt chuột: “Chớ để con nào sơ lậu phải ra tay lấp lỗ tam bành. Đừng cho chúng nó sẩy ra phải hết sức trừ đồ lục tặc”. Có như thế mới được cảnh: “Bốn phương đều ngợi cảnh thăng bình. Thiên hạ cùng vui câu án đỗ” Nhưng cũng nên được hiểu vì một nỗi bức xúc Cụ có ý mượn đó để hô hào trừ diệt bọn quan tham lại nhũng trong bộ máy cai trị của Tây và Nam triều.

         Tuy không hô hào diệt chuột diệt trừ quan tham mạnh mẽ quyết liệt như Nguyễn Đình Chiểu (đã từng ra tuyên ngôn Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà) dân gian vẫn thích kiếm chuyện chuột để đùa dai với giới quan lại chuyên nhũng nhiễu dân. Chuyện cũ kể rằng:

          Bữa nọ quan ở công đường vợ quan ở nhà và đã nhận một món quà hối lộ là một con chuột đúc bằng vàng to bằng chuột thật có người đem tới biếu. Quan về vợ khoe việc nhận hối lộ và cũng nói thiện chí của người đưa hối lộ muốn tặng quà cho ấn tượng: Món quà biểu tượng tuổi Tý của quan. Quan mừng nhưng liền đó nghĩ lại mà bực tức trách vợ sao không nói với người ta rằng ông tuổi Sửu cho được quà cực to là con Trâu vàng. Chao ôi lòng tham làm cho quan mê muội!

         Ngày kia bầy chuột họp nhau để cùng bàn cách trừ mối họa là chú mèo hiểm ác đặng bảo toàn nòi giống chuột. Cuộc họp nhiều ý kiến nhưng có một ý kiến được mọi “người” khen hay: Phải đeo một cái lục lạc vào cổ lão mèo để mèo đi tới đâu cũng có tiếng lục lạc rung leng …keng… báo động cho chuột chạy trốn. Nhưng ai kìa “cảm tử” đi làm việc nguy hiểm đem nạp mình vào miệng mèo hung ác? Chủ trì hỏi mãi mà cuộc họp cứ lặng thinh không chuột nào dám đứng lên tình nguyện. Đó cái hung (mà cũng là cái tội) của quan là đã làm cho lương dân phải khiếp sợ phải chấp nhận hèn. Cũng từ đó mà có thành ngữ: “Hội đồng chuột”.

         Người ta có chuyện Nửa dơi nửa chuột để cảnh cáo người dân lương thiện đừng dễ bị mắc lừa bởi miệng lưỡi của hạng quan thiếu đức thương dân. Khi gặp cảnh thuận thì chúng làm chuột để trổ tài ma mãnh tham gian khi gặp cảnh nghịch thì làm dơi để thoát thân biến hóa khôn lường. Người ta gọi chúng là bọn giảo hoạt nửa dơi nửa chuột bọn chim (dơi) - chuột phải thông minh phát hiện ra chúng.

         Không biết bằng quan sát cách nào mà tác giả Hồ Huyền Quy đã viết nên áng cổ văn Truyện “Trinh thử” (Trinh thử: con chuột trinh tiết) để tán dương lòng trinh tiết (Trinh thử: con chuột trinh tiết) và chỉ trích thói dâm tà.           

         Không biết có bao nhiêu câu ca dao cảm hứng từ bạn chuột vẫn cất lên trong các xóm thôn? Trẻ con vẫn hát: “Con mèo con chuột có lông / Cây tre có mắt nồi đồng có quai” chuột trong lời bài hát khá thân quen và an bình bên cạnh những con vật đồ vật khác chớ không có gì là bị hô hào truy đuổi diệt trừ mối họa. Ông bà già vẫn thường kể: “Con mèo trèo lên cây cau / Hỏi thăm: Chú chuột đi đâu vắng nhà? / Chú chuột đi chợ đàng xa/ Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo… ” như đã kể truyện thơ Lục Vân Tiên để mà cười cái hiểm sâu của mèo thương cái trốn chui trốn nhủi mà vẫn không yên của chuột. Đó là một lẽ. Nhưng phải chăng còn một lẽ khác kể để hóa giải hận thù giữa những người thù địch không đội trời chung với nhau? Ai yêu ca dao lại không thuộc lòng câu này: “Chuột kêu chút chít trong rương / Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay” để có thêm một mối thương cảm.

 

         Có ai giải thích giùm tại sao các cô gái thường sợ chuột? Theo tôi người đầu tiên gọi chuột “bằng ông” (Ông Tý) chắc là một người phụ nữ vì chuột hay cắn phá quần áo thời trang của chị quần áo của chồng con chị. Tôi nhớ má tôi khi bà còn sống tối nào đang làm hàng (để sáng ngày quảy ra chợ bán) mà nghe chuột xạ reo là bà mừng và bảo: “Sáng mai nhất định má mua may bán đắt và sẽ mua về cho các con nhiều quà vì đã có tiếng chuột xạ reo báo trước tin vui”.

         Có ai xếp giùm tôi con chuột vi tính của thời công nghệ thông tin này thuộc dòng họ chuột nào: Chuột xạ hay chuột nhắt chuột xù hay chuột cống chuột nhà hay chuột đồng? Dù được xếp theo dòng họ chuột nào con chuột vi tính của thời công nghệ thông tin ngày nay là con chuột thân thương của con người trên khắp thế giới: nó mang lại thông tin cho con người xích thế giới lại gần nhau. Hàng trăm triệu con người trên khắp thế giới vẫn hằng ngày lăn con chuột mà làm việc làm công trình sáng tác… làm niềm say mê niềm vui hạnh phúc cho mình.

      

 

(1) Lý Tư thời trẻ tuổi nhờ hai lần gặp chuột (một lần gặp chuột ăn vụng ở xó nhà mình trong cảnh vừa ăn vừa sợ bị vồ đập mất mạng; lần khác thấy chuột ung dung ăn trong kho thóc to không hề tỏ ra sợ gì hết) mà đi tới quyết định bỏ sáu nước để đi theo nước Tần giàu mạnh nhất đặng làm con “chuột sa bồ nếp”. 

 

 

More...

Bút ký "Ăn chè...rồi lại ăn xôi"

By Huỳnh Kim Bửu

 

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

 

“Ăn chè… rồi lại ăn xôi”

  

 

 

 

         “Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm): Vị giác đó mà tình đời cũng đó. Món ngọt phong phú lắm: Bánh thuẫn bánh in cốm nếp cốm ngô… Mà phải chăng trong đó chè là món thứ nhất?

 

       Chè nào chẳng nấu với đường và thường không thiếu các “gia vị” vẫn dành cho nồi chè: Dầu chuối gừng va – ni lá dứa…

      Chè tổng hợp là món chè thường gặp nhất ở nông thôn tức nông dân thường ăn nhất. Chè chế biến từ đậu đen nếp đậu phụng (rang nguyên hột). Tại sao nông dân thích ăn chè tổng hợp? – Vì trong các gia đình nông dân vẫn sẵn có những thổ sản này. Chè tổng hợp nấu đặc. Người nông dân thích ăn đặc cho chặt bụng mà cầm cày cuốc nên gặp món chè này thì phải lòng không gì hơn. Chén chè tổng hợp nóng bốc hơi tỏa đủ hương vị: Thơm - nếp bùi - đậu đỗ vị ngọt của đường tới. Người sành ăn sẽ ăn nóng bẻ bánh tráng nướng giòn giòn thơm thơm xúc ăn cho thêm hương vị. Chén chè này ăn nguội sẽ mất hết hương vị bỏ cục đá lạnh (của thời nay) vào sẽ rất nhạt nhẽo; chế biến chè phải dùng đường đen (đường muổng hay đường tán) mới có vị ngọt đậm đà tính dân dã nó không hợp với đường cát trắng dành cho bữa chè khác của nhà khá giả.

      Chè thập cẩm thời nay là một sự “phát triển” của chè tổng hợp xưa có thêm nhiều loại đậu đỗ để cho thành “thập cẩm”. Có thấy những quán chè thập cẩm dọn ra đến trên dưới mười cái xoang trắng tinh đựng chè xếp thành hình vòng cung giống như một dàn trống võ mà bà bán chè với những thao tác uyển chuyển nhanh nhẹn cũng giống như người nghệ sĩ biểu diễn dàn trống đó.  

        Chè đậu đen nấu loãng ăn với đá lạnh có giá trị giải khát lắm.

        Chè đậu xanh chế biến từ nếp đậu xanh đường cát vàng mỡ gà thường gặp ở các nhà trung lưu trở lên. Chè này ăn với đá lạnh vừa mát miệng vừa đã khát.

         Chè đậu xanh đánh được chế biến bằng bột đậu xanh mịn đường cát vàng hay đường cát trắng đánh nhuyễn. Để nguội ly chè đặc lại thành bánh có thể cầm trên tay ăn.

        Chè đậu váng nấu bằng đậu váng nguyên hột cho bột mì nhứt và đường cát vào. Chè đựng trong ly người ta thích ăn với đá lạnh.

       Chè đậu ngự ngọt thanh cắn hột đậu ngự nghe thơm bùi. Đậu ngự còn nấu canh với thịt nạc xào với bún Tàu - thịt nạc đều ngon đặc biệt. Do vậy nó thường để dâng vua bởi thế mới đặt tên là đậu ngự.

       Chè hạt sen thường nấu dâng cúng Phật. Hạt sen còn làm mứt ăn mứt hạt sen cắn túc tắc rỉ rả trong Tết tư đám tiệc cũng vui chẳng khác gì cắn hạt dưa.

      Chè chuối nướng - nước dừa - đậu phụng rang giã nhỏ là món chè bình dân vẫn “kết bạn tâm giao” với giới lao động và học sinh ở các thành phố.

       Chè nếp nấu đặc đựng trong chén thường gặp trong những bữa cúng Các bác ngày sóc vọng hàng tháng bên cạnh các đĩa xôi nếp - đậu xanh đĩa củ lang luộc chín và những chén cháo trắng.

        Chè bắp chế biến từ bắp non. Nấu sênh sếch hạt bắp non bào nhỏ với đường cát sẽ cho ly chè bắp ngọt thanh ăn lợi tiểu chẳng khác gì uống thuốc bắc.

       Chè trôi nước chế biến bằng nguyên liệu bột mì vo viên có nhân. Gọi là chén chè trôi nước bởi vì những viên bột mì hình thoi bọc nhân là hạt đậu phụng rang to bằng hạt mít nổi trôi trong chén chè loãng. Chè ỉ khác với chè trôi nước ở viên bột mì. Viên bột mì chính là viên chè. Nó to và tròn trĩnh như quả chanh mang nhân đậu đỗ hay nhân dừa bào mảnh thành sợi hương thơm vị béo mà ngọt lịm.              Chè ỉ múc cả nước lẫn cái vào chén hay ly thủy tinh sẽ bắt mắt kích thích vị giác vì cái viên chè to tướng nằm choán hết chỗ của ly chè.

        Bánh canh ngọt là món gần gũi bà con dòng họ với chè. Món này chế biến bằng bột gạo sú nước vào cho ướt đều xe thành cọng to dài bằng chiếc đũa con. Đoạn cầm trên tay đưa tay ra ngang tầm nồi nước đang bắc trên bếp lửa dùng kéo cắt cọng bột thành từng đoạn dài 5 – 10 phân cho rơi thẳng vào nồi nước kế tiếp cho đường vàng vào. Nồi bánh canh vẫn ở trên bếp cho tới khi nào nghe mùi thơm của bột gạo chín của đường tới thì hạ xuống. Bánh canh dùng nhiều gia vị gừng (như chè đậu đen chưa có bột va – ni dầu chuối như ngày nay). Chế biến bánh canh xong múc ra chén bát vại sắp vào mâm bà nội trợ mời cả nhà ăn. Ăn uống tùy sức ai hảo ngọt thì ăn bát vại. Đứa con nít nào hư bị người lớn đánh đòn nứt lằn ngang dọc ở mông đít thì gọi là đã bị “cho ăn …bánh canh”!

        Chè bánh tráng là “sáng chế” của mấy chị em nhà nọ mỗi khi cha mẹ vắng nhà. Cầm dao gọt đường tán vào bát đã có sẵn bánh tráng bẻ vụn rồi chế nước sôi vào. Nhà 7 chị em chế 7 đứa 7 tô tức thì mỗi đứa có một tô chè bánh tráng ăn cũng ngon như thường.

       Chè đông sương chế biến từ rau câu xay thành bột đóng gói bán ngoài chợ. Cho bột rau câu vào xoong nước đang bắc trên bếp hồng nấu sôi cho gia vị vào rồi tắt lửa hạ xuống múc ra chén. Đợi nguội nếu nấu loãng thì cho chè đông sương (đông mềm) nếu nấu đặc thì cho bánh đông sương (đông cứng). Ăn chè bánh đông sương nhớ xu xoa cũng chế biến từ rau câu chỉ khác ăn xu xoa nghe rõ mùi rau câu hơn khiến cho người dễ mủi lòng nẩy sinh tình cảm nhớ biển …mặn. 

Thường thì chè đặc đựng trong chén bát; chè loãng chứa trong ly. Nhưng cũng còn tùy thuộc vào những gì có sẵn trong sóng chén của bà nội trợ nữa. Các bà nhà khá giả quản lý sóng chén đã chia tô chén đĩa thành mấy loại: Chén ăn cơm chén ăn chè (còn gọi tắt là chén chè) chén nước mắm đĩa trái đào đĩa con vịt bầu chén da lươn…Chén chè là chén mỏng (thuộc nhóm đồ mỏng đồ Tàu) don don đứng trái đáy sâu đóng triện Nội phủ dưới khu chén khác với chén ăn cơm lớn hơn miệng rộng; chén nước mắm nhỏ đáy nông. Như vậy có chén chuyên dụng: Chén chè.

  

         Khi nào thì người ta ăn chè?

         Người ta vẫn thường ăn chè khi trong nhà đã có sẵn các nông thổ sản có liên quan tới nồi chè xoong chè.

        Trưa nhất là những trưa hè nóng bức bà nội trợ chế biến sẵn từ hồi nào dọn lên bữa chè đậu xanh hoặc đậu đen nấu loãng đãi cả nhà ăn. Ăn với đá lạnh. Ăn xong được cái cảm giác mát rượi chạy khắp người ông chồng hứng quá khen vợ mình đảm đang lũ con bắt chước bố khen mẹ mình giỏi giang hết ý. Khách tới nhà chơi được chủ nhà mừng rỡ cầm chân mời ăn cơm trưa ngủ trưa xế thức dậy còn cho ăn chè (thói thường là chè tổng hợp) rồi mới được thả cho về. Người lớn trẻ con hảo ngọt trông cho luôn có dịp ăn chè và chắc đã có không ít lần thốt lên “tiếng lòng”: “Cu kêu ba tiếng cu kêu / Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè…” (Ca dao). Trong các làng ở quê tôi xưa rải rác có quán chè có những gánh chè bán dạo xóm dạo đồng đang mùa gặt hái đông người. Ở Quy Nhơn hồi cách đây vài mươi năm đường Phan Bội Châu đường Trần Phú… nối đuôi nhau các tiệm chè bởi thế được nhiều người gọi là mấy phố Chè cho nó văn nghệ. Cũng thời đó ai thích món chè chuối nướng cứ chờ tối đến đạp xe thẳng tới đường Mai Xuân Thưởng (đoạn gần Nhà hàng Trầu Cau bây giờ) lên Cầu Đôi…Ở các nơi đó quán chè chuối nướng la liệt trên hè phố mà quán nào cũng đang đông vui những người hảo ngọt tụ lại. Còn các gánh chè bán dạo phố phường thì sớm trưa chiều tối gánh nọ đụng đầu gánh kia. 

 

       Gu của người ta ăn chè thường kèm với ăn xôi chè – xôi vẫn đi đôi với nhau: “…Ăn chè rồi lại ăn xôi / Còn ba đòn bánh tét để dành hạ nêu” (Ca dao).

       Xôi được chế biến từ các nguyên liệu: Nếp đậu xanh đậu đen đậu phụng đậu ngự gất lòng gà lòng lợn trứng cút …Nói chung nguyên liệu chế biến xôi giống như chè chỉ khác: Xôi không đường nấu bằng chõ (1) để cho xôi vò hoặc bằng nồi để được cơm nếp. Người Bình Định làm mâm cỗ giỗ kỵ tiệc tùng thường mãn tiệc bằng mời thực khách ăn món xôi: “Ăn xôi rồi việc” (Tục ngữ) cũng giống như xem tuồng tích đòi phải có “hậu”. Ở Quy Nhơn có mấy tiệm xôi thơm bán buổi sáng ở các đường Nguyễn Thái Học Trường Chinh… thường đông khách.

 

         Ngày nay cái thú ăn chè đã giảm đi nhiều. Ở Quy Nhơn những phố chè ngày trước nay chuyển sang bán buôn mặt hàng khác. Thậm chí gánh chè rong phố cũng đã ít gặp! Phải chăng người ta ăn kiêng món đường ngọt như kiêng thịt mỡ da gà? Nhớ quá những bữa chè với bạn bè Văn nghệ ở đường Phan Bội Châu (gần trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh) tình bạn cứ thêm ngọt ngào!

(1)Dụng cụ nhà bếp dùng để nấu xôi. Chõ làm bằng đất nung giống như vò nhưng đáy nhiều lỗ . Khi nấu xôi chõ đặt trên một nồi rồi trét đất lại ở chỗ chõ tiếp giáp với miệng nồi. Đốt bếp lên nấu cho tới khi chõ xôi nghe bốc hơi thơm thì có được món xôi vò ăn ngon tuyệt.

 

 

 

More...

Tản văn Mục đồng

By Huỳnh Kim Bửu

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu
 
 
 
Mục đồng
alt 
 
 
     Làm nghiệp nông bên cạnh anh thợ cày chị thợ cấy…còn có chú bé mục đồng.
     Mục đồng là ai nhỉ? – Trong gia đình nông dân thường có sự phân công: “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” thì đứa con trai lên mười cũng thường được giao cho “nhiệm vụ” cầm roi chận bò như một cách giúp đỡ cha mẹ. Chú bé chăn bò được gọi là mục đồng. Nơi các làng quê nhiều nhà nghèo phải đem đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn gởi cho nhà giàu nuôi làm trẻ chăn trâu thuê. Đây là “lực lượng” đông đảo trong giới mục đồng.
        Công việc hằng ngày của mục đồng là chăn dắt đàn trâu bò (nhưng cũng có khi là đàn ngựa dê…). Sáng ngày mục đồng dậy sớm lùa trâu ra đồng cho trâu cùng với ông thợ cày bắt đầu một ngày cày bừa làm cái việc nặng nhọc nhất của nhà nông. Việc cày bừa mà gặp phải khi “nông vụ tấn thời” thì phải từ sáng sớm đến chiều tối. Trong khi trâu sức cày bừa thì mục đồng phải vừa chăn dắt mẹ con trâu cái vừa cắt cỏ non “nhận” đầy giỏ bội đặng kịp chiều về cho trâu ăn. Trâu là loài tham ăn cho nên mục đồng phải chận đừng cho trâu ăn cây lúa non ngoài đồng; trâu là loài hăng máu không để cho trâu báng lộn mà mất sức; trâu là loài mạnh không để cho trâu theo cái nhiều mà mất điều độ xuống sức… Hằng ngày chăn dắt trâu mà để trâu đói bị muỗi mòng đốt đỉa cắn không sạch sẽ…là lỗi của mục đồng. Gặp thời buổi nhiễu nhương bọn kẻ gian lừa bò trâu trộm đông như rươi mục đồng còn phải ngày đêm canh giữ không để trâu bị lừa trộm. Vì mất trâu là mất cái đầu cơ nghiệpcủa nông dân. Mục đồng phải làm lụng tối ngày vất vả khổ cực lắm. Trẻ chăn trâu thuê đâu chỉ chăn trâu mà còn phải làm bao việc “bế em xay lúa” cho nhà chủ nữa.
        Xưa nay người ta vẫn hay nói “cái thú chăn trâu”. Nói để thi vị hóa nghề chăn trâu khổ cực cũng có nhưng để mô tả một sự thực cũng có. Thú chăn trâu trước hết phải kể thú cưỡi lưng trâu vuốt đuôi trâu sờ sừng trâu đội nón mê như lọng che ngồi mình trâu thổi sáo…Ngồi mình trâu không thú sao có Lão Tử cuối đời cưỡi trâu mà biến mất không còn để lại tung tích gì hết; Đinh Bộ Lĩnh cưỡi trâu tập đánh trận; Nguyễn Công Trứ “nhạc ngựa bò vàng đeo ngất ngất ngưởng” đến Chế Lan Viên cũng tự xưng: “Tôi chỉ là nhà thơ cưỡi trâu” (Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh trong tập Thơ Chế Lan Viên NXB Đồng Nai – 2006) ? Kế đó là đủ thú chơi khác với bạn mục đồng cùng trang lứa: Nào thú tập họp lại 9 – 10 đứa bạn để chia 2 phe chơi cờ lau tập trận như Đinh Bộ Lĩnh hồi xưa hát ống hát đồng dao đá kiện đá cầu…Chơi một chỗ chán kéo nhau đi lùng sục trong các đồi gò sông suối tìm cảm giác mới lạ: Bắt gặp chỗ này những chùm chim chim dú dẻ chà là chín; chỗ kia chim kêu vượn hót; nơi nọ con suối chảy cá bơi hoa rừng nở … mà ngất ngưởng hạnh phúc bảo với nhau rằng: “Đó là vườn địa đàng là thế giới riêng của chúng mình”. Chăn trâu không thú sao nhiều học trò trường làng trường tổng vẫn tranh thủ thời gian được nghỉ học để đi chăn trâu chơi với bạn chăn trâu?  
       Những câu chuyện về mục đồng được chép trong sử sách không ít. Sử sách Việt kể Đinh Bộ Lĩnh thời trẻ đi chăn trâu và thường tổ chức cho các bạn mục đồng tập đánh trận lấy bông lau làm cờ hiệu lệnh sau lớn lên ông thành người tài cầm quân dẹp loạn 12 sứ quân rồi lên ngôi vua xưng Đinh Tiên Hoàng. Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ khi phải rời bỏ xứ đàng ngoài để đi vào xứ đàng trong tìm minh chủ ông đã phải vào ở chăn trâu cho một gia đình giàu có (ở phủ Hoài Nhơn - Bình Định) mà chờ thời. Sau nhờ có quan khám lý Trần Đức Hòa tiến cử mà Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên trọng dụng. Chuyện Ninh Thích chăn trâu trong sử sách Trung Quốc xưa ai cũng biết: Ninh Thich đời Xuân Thu xuất thân là người có tài kinh bang tế thế mà thuở hàn vi vị ngộ phải đi ở chăn trâu sau nhờ có người tiến cử mà vào được dưới trướng Tề Hoàn Công lập công to làm quan tới chức Đại phu. Vào các làng quê người ta dễ gặp những cái miếu cổ mục đồng xây bằng đá ong và vôi vữa lở lói tọa lạc giữa đồng không mông quạnh tựa lưng vào ụ gò mối bụi cây dúi già hang hốc. Có lẽ ban đầu đó là một túp lều lá mục đồng dựng lên để trú mưa nắng lúc ở giữa đồng rồi sau phát hiện ra điều gì linh thiêng mới lập nên miếu thờ. Ở làng Phong Lệ thuộc xã Hòa Châu - huyện Hòa Vang – Đà Nẵng có lễ hội mục đồng tổ chức 3 năm một lần tại đền Thần nông ở trong làng. Đây là một lễ hội nổi tiếng cả nước. Lễ hội diễn ra 3 ngày đêm trẻ chăn trâu được tập họp lại để diễu hành rước xách và để cho mọi người… tôn trọng.
 
       Trong thơ họa bài hát thường gặp hình ảnh mục đồng nhất là những sáng tác về đồng quê hồn quê hương trong nỗi thương nhớ của người xa xứ…Có bài thơ thật hay: “Phong như lợi kiếm ma sơn thạch / Hàn tự tiêm phong thích thụ chi / Viễn tự chung thanh thôi khách bộ / Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy” (Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù) đã được dịch: Gió sắc tự gươm mài đá núi / Rét như dùi nhọn chích cành cây / Chùa xa chuông giục người nhanh bước / Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay. Bằng nghệ thuật thi vị hóa bài Tập đọc sau đây vẫn đọng lại trong bao thế hệ học trò: “Ai bảo chăn trâu là khổ? – Không chăn trâu sướng lắm chứ ! Đầu tôi đội nón mê như lọng che.Tay cầm cành tre như roi ngựa ngất nghểu ngồi trên mình trâu tai nghe chim hót trong chòm cây mắt trông bươm bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời xanh lá biếc tôi với con trâu thảnh thơi vui thú tưởng không còn gì sung sướng cho bằng! (Quốc văn giáo khoa thư – bài Chăn trâu). Ca dao tả mục đồng chăn trâu không phải ít: “Chú Cuội ngồi gốc cây đa / Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời / Cha thời ở tận trên trời / Con trâu ăn lúa no thời tắm sông”; “Con cóc ngồi góc cây vông / Chép răng chép lưỡi đợi mục đồng đi qua / Mục đồng nhắm mắt đi qua / Chép răng chép lưỡi chửi cha mục đồng”. Vẽ mục đồng chăn trâu là đề tài và cũng là nguồn cảm hứng của các nhà nghệ sĩ nhất là các nghệ sĩ vẽ tranh dân gian Đông Hồ. 

More...

Tản văn Làng cổ

By Huỳnh Kim Bửu

Tản văn của Huỳnh Văn 


Làng cổ


Mới mấy chục năm thôi mà cái làng đã thay đổi nhiều lắm. Phỏng chừng không lâu nữa có ai đó vì lòng hoài cổ muốn tìm lại cái làng xưa để thăm một chuyến e sẽ bị khó tìm nếu không muốn nói ngay rằng không tìm đâu ra.
 

More...

Tản văn Nắng mới

By Huỳnh Kim Bửu

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Nắng mới

Trong cái giá lạnh của Mùa Đông vạn vật thu mình lại và diễn ra một cảnh Đông tàn. Người ta bảo đó là vạn vật ngủ Đông. Nhưng rồi theo lẽ tuần hoàn Đông qua cho mùa Xuân lại đem theo về nắng mới.

More...

Tản văn Tặng quà Tết

By Huỳnh Kim Bửu

 

Tản văn Huỳnh Văn
 


tặng quà Tết


 

 

 

Tặng quà Tết đi Tết chúc Tết chắc đã có từ xưa vì trong dân gian đã sớm có câu truyền miệng: "Mồng một  tết cha mồng hai tết mẹ mồng ba tết thầy" (Tục ngữ).

Khi trong các làng quê người ta thấy mai vàng cúc tím sen hồng nở rực rỡ và cảnh chuẩn bị đón Xuân cũng xem chừng đã rộ lên thì đồng thời cũng thấy rộ lên việc đi Tết tặng quà Tết.
 

More...

bút ký Phố Quy Nhơn xưa

By Huỳnh Kim Bửu

Ký ức phố Quy Nhơn

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

Quy Nhơn của thời kỳ phát triển này đã làm đổi thay rất nhiều dáng dấp của Quy Nhơn ngày xưa (những năm giữa thế kỷ trước) trong đó có dáng dấp những đường phố.

Đường phố Gia Long (nay là đường Trần Hưng Đạo) giữ vai trò trung tâm thương mại của Quy Nhơn: Cửa hàng hiệu người Việt người Hoa người Ấn ... nối tiếp nhau. Cũng có đoạn khu biệt thành dãy toàn phố người Hoa: đoạn nằm giữa hai ngã tư Trần Hưng Đạo - Mai Xuân Thưởng và Trần Hưng Đạo - Trần Cao Vân. Các tiệm người Việt buôn bán tạp hóa máy móc; người Ấn chuyên buôn bán vải (thường treo bảng đại hạ giá); người Hoa chế biến thực phẩm mở quán ăn (Cơm Dương Châu mì hoành thánh) tiệm trà tiệm thuốc Bắc... Cảnh bán buôn ở đây sầm uất nhộn nhịp. Chiều thứ Bảy ngày Chủ nhật giới công chức đổ ra đi phố và mua sắm học sinh chúng tôi thích chúi mũi vào các tiệm sách Đại Chúng Văn Hóa Khai Trí... chứa nhiều sách quý. Bây giờ trong nhiều người vẫn còn giữ ấn tượng đẹp về một phụ nữ trẻ chủ một hiệu sách mặc áo dài đứng quầy vóc dáng thanh tú nói năng dịu dàng bao giờ cũng đón tiếp khách hàng một cách niềm nỡ. Ban đêm các biển hiệu hộp đèn các quầy tủ kính trưng bày hàng sáng choang rực rỡ dưới ánh điện.

Đường Bạch Đằng  đường của chùa chiền hội quán và lễ hội. Được đặt tên là đường Bạch Đằng vì con đường này chạy dọc theo đầm nước sâu Thị Nại nơi lịch sử còn ghi vua Trần Duệ Tông (1337 - 1377) rồi vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) đã dẫn quân vào đây để tiến lên đánh lấy thành Đồ Bàn của vua Chiêm. Vua Trần Duệ Tông đánh không thành tử trận; vua Lê Thánh Tông đánh thắng. Con đường chạy qua khu phố Trần Hưng Đạo tập trung nhiều người Hoa mọc lên nhiều đền chùa hội quán. Các đền chùa hội quán uy nghiêm cổ kính vẫn thường nghi ngút khói hương và quanh năm có nhiều lễ hội. Trong các lễ hội có lễ hội đổ giàn tại Chùa Bà Phúc Kiến tổ chức Rằm tháng Bảy là lớn nhưng cảnh tranh cướp heo không hấp dẫn bằng lễ hội đổ giàn ở đất võ An Thái. Cứ đến lễ Vu Lan - Rằm tháng Bảy các chùa tổ chức phóng sanh đăng trên đầm Thị Nại hoạt động này giàu ý nghĩa cầu siêu tế độ giải thoát chúng sinh cho nên thu hút nhiều người xem. Trên đường Bạch Đằng trồng hàng cây bàng đã thành cổ thụ đặt đoạn đường sắt chạy xuống cầu tàu - cảng Quy Nhơn. Cứ vài ngày có chuyến tàu lửa chạy qua kéo còi inh ỏi và nhả khói đen kịt lâu lâu gặp một cảnh hàng bàng trút lá ào ào xuống mặt đường xuống sân các đền chùa bởi một trận cuồng phong bất thình lình từ mặt đầm nổi lên.

Đường Tăng Bạt Hổ đường Hàng Keo. Quy Nhơn có hai con đường trồng cây keo: Đường Tăng Bạt Hổ và đường Nguyễn Thái Học (đoạn chạy qua xóm Bàu Sen). Quanh năm các hàng keo xanh đậm mùa xuân cho hoa mùa hè cho trái. Nơi gốc keo sù sì trước tam quan Chùa Phật giáo Tỉnh Hội (nay gần nhà sách Thanh Niên) treo trên cành mấy lốp xe đạp cũ mục hàng ngày có ông thợ vá xe đạp với đôi bàn tay lấm lem ngồi vá xe thường có mấy khách hàng ngồi chòm hỏm vừa trò chuyện vừa đợi ông. Hiện nay tôi vẫn còn thấy ông ngồi đây vá xe đạp mặc dầu đã già yếu. Và tôi cũng không hiểu tại sao ông có thể vá xe đạp lâu đến 50 năm giữa thời buổi có không biết bao người đã đổi thay nhanh chóng đời mình? Lũ học sinh chúng tôi rất thân quen với đường Tăng Bạt Hổ vì đó là đường đến trường hằng ngày (Nếu lấy Chùa Hội làm tâm điểm thì các trường Trung học lớn Cường Đễ (nay là trường PTTH Quốc Học) Nữ Trung học Ngô Chi Lan (nay là trường PTTH Trưng Vương) Trung học Nhân Thảo (nay là THCS Trần Hưng Đạo Nữ Trung học Trinh Vương (nay là Đại học Quang Trung) đều cách đó một bán kính chừng nửa cây số. Trung học Bồ Đề thì trên đường này. Chúng tôi không gọi đường này là đường Tăng Bạt Hổ mà thích gọi là đường Hàng Keo cho có vẻ nên thơ như trong thơ Xuân Diệu: "Những nhành keo đêm trăng Quy Nhơn / Nở hoa trắng nhỏ bíu cành tuôn / Nhánh dài rũ xuống như tơ liễu / Gió biển đung đưa khe khẽ mơn" (Hoa keo ở Quy Nhơn). Sớm chiều khách mộ đạo Phật đi trên đường Tăng Bạt Hổ sẽ được lắng nghe tiếng tụng niệm tiếng chuông từ Chùa Hội vọng ra mà thấy lòng thanh thản là dịp hướng tâm về nẻo thiện.

Đường Phan Bội Châu thơm mùi cà phê rang. Con đường có nhiều nếp nhà cổ với mái ngói âm dương cửa ván dày hai tấm đặt trên ngạch gỗ săng cao; cũng có nhà dựng cửa bàn khoa chạm hoa văn thủng đứng sau hàng cổng lửng sơn màu xanh đỏ. Chủ nhân các ngôi nhà thường là người Hoa họ mở phòng ngủ quán kem Flanc tiệm xay cà phê bán sỉ. Mùi cà phê rang thơm nức thường lan tỏa trong không gian đáp nhẹ vào mũi người đi đường. Nếu gặp một chiều gió mưa lạnh lẽo và bạn là khách đi phố đang co ro rảo bước dưới mưa mùi ấy chắc sẽ gây cho bạn cảm giác ấm lòng giảm bớt cô đơn. Trên đường Phan Bội Châu đầu đường có Nhà hát Trung Hoa (sau đổi tên là Rạp chiếu bóng Tân Châu nay là Rạp 31 / 3) cuối đường gặp cửa Bắc Chợ Quy Nhơn. Nghe nói tại Nhà hát Trung Hoa đã có đôi lần tổ chức diễn thuyết tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh giữa các nhà thơ nhà lý luận phê bình theo các trường phái khác nhau. Cũng nghe nói thời Quy Nhơn bị Pháp tạm chiếm du kích đã đánh vào đây mấy trận để tiêu diệt sĩ quan Pháp đang họp; đây là địa điểm tổ chức một số cuộc họp của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến theo Hiệp định Geneve - 1954 với sự hiện diện của đại diện Quân sự các nước thành viên Ấn Độ - Ba Lan - Canada.

Đường Nguyễn Huệ... dạo bãi biển. Thả bộ trên đường này là cái thú của nhiều người Quy Nhơn và khách du lịch: Họ ngắm biển những đoàn tàu thuyền vào ra hứng ngọn gió nồm thổi lắng nghe bản nhạc thùy dương...Họ đang tìm sự thư dãn cho tâm hồn. Sáng chiều người các phố đổ ra tắm biển đủ nam phu lão ấu và đồ tắm biển cũng đủ màu sắc...Đường Nguyễn Huệ đoạn trên dưới trường Nữ Trung học Ngô Chi Lan mùa hè rực lửa hoa phượng đỏ ai cũng bảo đó báo hiệu mùa thi đến; khúc chạy qua Khu 2 thường tanh mùi cá tôm mùi rong rêu nhất là gặp khi những đoàn thuyền của ngư dân trúng mẻ cá tôm trở về. Đường Nguyễn Huệ đã từng có vai trò chứng nhân của lịch sử: Một cuộc xuống tàu đi tập kết của cán bộ chiến sĩ Bình Định và các tỉnh Miền Nam diễn ra năm 1955; một cuộc nữa ngày kết thúc thắng lợi ở Bình Định cuộc chiến tranh chống Mỹ kéo dài 21 năm. Ngày nay trên đường này đã dựng Tượng đài kỷ niệm 2 sự kiện lịch sử đó.

Trên nói những đường phố đã thay đổi nhiều còn giữ lại rất ít những dấu tích xưa. Đường phố Quy Nhơn còn nhiều mỗi con đường mỗi vẻ nhưng có chung một vẻ yên tĩnh hiền lành dễ thương gần gũi với thiên nhiên chưa có gì là to lớn (chưa có nhà lầu một ít nhà có gác lỡ) thiếu cái hối hả của cuộc sống đô thị: "Những lúc hiu hiu thổi gió nồm / Hồn trong võng mát như ôm / Những chiều kéo lưới thuyền về nặng / Lảnh lảnh nghe rao "cá bánh đường" (Xuân Diệu - Tâm sự với Quy Nhơn). Cái nổi bật của đường phố Quy Nhơn về đêm là những tiếng rao dài hun hút: phở hột vịt lộn tẩm quất... của những người bán hàng rong người kiếm sống trên đường phố về đêm.

Sông có lúc đường phố có khúc chăng? Đường Bạch Đằng do bị lấn đầm lập khu dân cư mới mà xa bến nước là một sự lạc lõng bơ vơ tội nghiệp cho con đường. Ngày xưa thi sĩ Xuân Diệu về quê Gò Bồi: "Nằm một đêm đò sáng tới nơi" chắc con đò đó phải xuất phát từ bến Bạch Đằng? Ngày xưa ở Quy Nhơn ai đi dạo phố mua sắm thì ra đường Gia Long khu phố Trần Hưng Đạo xuống Chợ Lớn...Nói chung khi cần gì thảy người ta ra đó đi phố là ra đó. Ngày nay ngược lại ai đi Siêu thị Metro Hội chợ - Triển lãm thì vào Khu 6; ai thưởng ngoạn Quy Nhơn về đêm thì vào đường Nguyễn Tất Thành đến Ngã 6 Khu Đại học ra đường Xuân Diệu... cũng là vào Khu 6.

H. K. B.

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu 162 / 32 / 18 Nguyễn Thái Học Quy Nhơn - Bình Định.ĐT: 0958 501562.

Be the first to like this post.

20 phản hồi

  1. on 26.12.2010 lúc 11:29 | Trả lời Minh Huy

    Còn nhiều đường phố Quy Nhơn độc đáo nữa nếu có thời gian tìm hiểu và viết thì đây sẽ là công trình nghiên cứu có giá trị


  2. on 26.12.2010 lúc 11:22 | Trả lời Tulokho

    Thiếu tên đường nhà tui rầu tác già ơi?


  3. on 26.12.2010 lúc 11:02 | Trả lời Mai Huynh

    Tác giả rất am tường và tâm huyết với Quy Nhơn mời viết nên được bài khảo cứu công phu này


  4. on 25.12.2010 lúc 22:26 | Trả lời Gia Huy

    Bai viet rat cong phu va tam huyet


  5. on 25.12.2010 lúc 18:48 | Trả lời Văn thị Thanh Thanh

    Mới hôm qua đọc bài báo nói về Tuy Phước quá hay. Bữa nay nhờ con trai kiếm dùm bài thơ "Đêm ngủ ở Tuy Phươc" của Xuân Diệu lại tìm thấy trang web này và đọc bài bút ký của anh Huỳnh Kim Bửu....tưởng như thấy cả ngày xưa hiện về và mình bỗng trở về là cô bé trong tà áo dài tinh khôi ngày ngày ôm cặp e ấp đến trường.
    Vậy mà cũng hơn 30 năm trôi qua xa trường và quê hương cũng xa. Tuy không ra khỏi đất nước nhưng cơm áo gạo tiền níu chân nên mỗi năm cũng chỉ về thăm quê được một lần độ dăm ngày...Và thấy mình cũng còn hạnh phúc khi rủ được vài ba cô bạn cũ dạo quanh những con đường kỷ niệm ngày xưa nhắc nhau nghe những kỷ niệm vui buồn của một thời con gái....
    Cảm ơn anh Huỳnh Kim Bửu đã vẽ lại một Quy Nhơn của ngày xưa để long mình xôn xao nỗi nhớ và chợt cảm thấy ấm lòng trong những ngày cuối đông xa xứ.


    • on 26.12.2010 lúc 07:54 | Trả lời Nhõng Nhẽo

      Văn thị Thanh Thanh trước ở đường Nguyễn Du phải không?


      • on 26.12.2010 lúc 13:39 | Trả lời Văn thị Thanh Thanh

        Ngày xưa nhà mình ở Trần Cao Vân là cựu học sinh Nữ Trung Học đến năm lớp 12 mình "ở trọ" Cường Đễ 3 tháng (lớp 12B2) sau đó lại trôi dạt ra Nhân Thảo. Nguyên nhân của sự ra đi này là một điều uất ức không nguôi cho đến tận bây giờ...
        Nhưng dù sao đi nữa Quy Nhơn và những ngôi trường thân yêu vẫn là những kỷ niệm đẹp là một phần đời mà mình mãi mãi trân trọng không thể nguôi quên.


  6. on 24.12.2010 lúc 20:58 | Trả lời Mỹ Thắng

    Nhìn hình biển QN mình nhớ quá thời nhỏ mình cùng mấy bạn trong xóm thường xuống biển chơi vui lém hic hic hic


  7. on 24.12.2010 lúc 20:50 | Trả lời Tào Lao

    Tào Lao thấy có số nhà 59 Biên Cương đó :D :D :D


  8. on 24.12.2010 lúc 10:17 | Trả lời ta chi than

    Cảm ơn anh Huỳnh Kim Bửu Đã gợi lại tấc cả những hình ảnh QN xưa lúc tôi ra đi .


    • on 24.12.2010 lúc 11:40 | Trả lời tháng 6 trời mưa

      Anh đi đâu vậy anh Tạ Chí Thân hỗng phải anh ở Nhơn Hội sao? Năm 1954 ba em ra Bắc năm 1975 Mưa theo ba về Nam còn anh đi đâu nhỉ cho Mưa biết với Mưa thít


      • on 24.12.2010 lúc 12:23 | Trả lời ta chi than

        "ANH ĐI ... MỘT SỚM THU BUỒN " mà tới bị giờ qua cũng chưa biết qua đi đâu ... Mưa hỏi qua thì qua biết hỏi ai bi giờ ???


        • on 24.12.2010 lúc 15:51 | Trả lời tháng 6 trời mưa

          "Anh đi ...một sớm thu buồn"
          Bao lần Thân đếm mưa tuôn phố gầy?
          Xưa Mưa má đỏ hây hây
          Bây giờ sâu muộn từng bầy đu theo
          Nhiều khi nhỏ lệ...số nghèo!
          Thân ơi! Mưa biết bỏ neo bến nào
          Phận thuyền bạc tựa trăng sao
          Mưa em quyết chọn anh hào Chí Thân


          • on 24.12.2010 lúc 16:45 VinhRùa

            Tru..ùi ui! "Cu Khỉ_Thân" nhà ta đắt shô như dzầy mà (bài) bên kia Bagiacodon lại đem ra "mần thịt"...nghỉ chơi mí Bagiacodon lu..un!


          • on 24.12.2010 lúc 22:27 ta chi than

            Tại BGCD thích ăn thịt Khỉ hơn là nhậu thịt Rùa ... HIc Hic ...


  9. on 24.12.2010 lúc 10:12 | Trả lời Le Huynh

    Tac gia la tho cong cua Quy Nhon nen viet rat sau sac va tinh te


  10. on 24.12.2010 lúc 10:05 | Trả lời meocon

    "ký ức phố QNhơn " hay tuyệt!

    còn con đường có hàng phượng vĩ đỏ rực( trước trường CĐể )mà ngày xưa được mệnh danh "con đường tinh ta đi"sao hổng nghe nhắc hé?


  11. on 24.12.2010 lúc 09:30 | Trả lời TRANKIMLOAN

    Cám ơn Huỳnh Kim Bửu đã viết về Ký ức phố Qui Nhơn quá hay!


  12. on 24.12.2010 lúc 09:05 | Trả lời Vũng Chua

    Bài viết hay nghiên cứu khá kỉ lưỡng.


  13. on 24.12.2010 lúc 06:41 | Trả lời Nguyễn Thị Trúc

    Bài viết về Quy Nhơn hay quá.

More...

Tản văn Trong như tiếng hạc...

By Huỳnh Kim Bửu

 




Tản văn của Huỳnh Văn 

                          


"Trong như tiếng hạc bay qua"
 

 

       Đồ chơi trẻ con xưa đã vắng bóng. Đó là một cuộc chia tay "một đi không trở lại" với chúng ta.

       Đổ chơi của trẻ con làng An Định hồi cách nay vài ba thế hệ có thể chia thành mấy nhóm:

       Nhóm tạo tiếng:

- Tiếng súng: Súng làm bằng ống trúc bắn bằng "đạn" trái nổ hái ngoài bờ rào (hoặc mảnh giấy nhai ướt vò viên to bằng trái nổ) nhét chặt vào nòng súng. Khi bắn đẩy viên đạn ra khỏi nòng là có được tiếng nổ: đùng. Súng này chỉ bắn phát một.
 

More...

Bút ký Nhơn An...

By Huỳnh Kim Bửu

 



Bút ký của Huỳnh Kim Bửu


Nhơn An đất và người
 

       Xã Nhơn An được thành lập hồi cả nước mới vào cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) cùng một lúc với các xã khác trong huyện An Nhơn.
 

More...