Bút ký Qua cầu Trường Thi...

Bút ký Huỳnh Kim Bửu 

Qua cầu Trường Thi đi tìm

                                   những bến nước con đò

                                      (Chàng gọi đò gọi đò như hối hả - Yến Lan)

                                          

           Đêm trong một xóm nhỏ cách không xa khúc sông Trường Thi cầu Trường Thi thi thoảng nghe tiếng vạc kêu và trong ngôi nhà cổ năm gian hai chái ông anh họ tôi kể cho tôi nghe câu chuyện về những bến nước con đò trên đất kinh xưa (1). 


         

          "Miền quê này không phải là vùng sông nước nhưng đây là nơi chảy qua con sông Côn và những nhánh nhỏ của con sông đó. Như thế nó cũng đủ tạo ra cảnh trên bến dưới thuyền con đò bến nước ở nhiều nơi. Và chẳng biết từ đời nào những con đò bến nước đã trở thành thân thương đối với mọi người: Anh về Đập Đá đưa đò / Trước đưa quan khách sau dò ý em  - Ca dao. 

          "Có cái bến nước chỉ là một chỗ lội. Làng Háo Đức làng Cẩm Văn  cùng ở dọc theo hai bên bờ con sông Cẩm Văn. Người hai làng qua lại nhau nhờ vào một chỗ lội là cái Bến Thùng. Anh trai làng Háo Đức vì thương cô gái làng Cẩm Văn mà phải lội qua Bến Thùng ngày mấy lần để có một ngày họ thành chồng vợ bằng một đám cưới hai họ và cô dâu chú rể cùng vén quần lội qua sông. Ở các vùng quê đâu thiếu những chỗ lội: Làng Ngang có một chỗ lội / Có đền ông Cuội cao vòi vọi / Đàn bà đến đó vén quần lên / Chỗ thì đến háng chỗ đến gối ..." - Thơ Nguyễn Khuyến.

          "Hồi nhỏ tôi ở quê ngoại và vẫn giữ nhiều kỷ niệm thời thơ ấu với cái bến Chùa và con sông Gò Chàm chảy qua quê mình. Nơi này tôi đã tiễn người chị bên họ ngoại tôi đi lấy chồng là đường tôi đi học là mặt gương trong cho làng An Định soi bóng nước dòng trong cho tôi tắm mỗi ngày tuổi thơ mình để cho tới bây giờ đầu hai thứ tóc tôi vẫn nhìn đời bằng đôi mắt trong veo của mình...

         "Lâu lâu tôi được bà ngoại dẫn đi chợ Đập Đá. Có hôm để đo may một bộ quần áo mới có hôm để cúp tóc hoặc để mua một tập vở học trò cùng mấy viên mực tím ngòi bút lá tre... Lần nào đi chợ chúng tôi cũng dậy thật sớm đi từ lúc gà gáy lần đầu. Đi hết một thôi đường đất là tới bờ sông và từ đó hai bà cháu tôi xuống đò ngang Bầu Sáo để tới chợ cùng với nhiều người khách đi đò khác. Ông lái đò có tên là Bầu Sáo vì ông còn kiêm nghề làm bầu một gánh hát mang tên ông: Gánh hát bội Bầu Sáo. Người ông cao như cây sào chống sõng của ông và ông đội nón lá đứng đằng lái vừa chống đò vừa hút thuốc nhả khói vào màn sương đêm hãy còn dày đặc còn người đi đò thì chuyện trò rôm rả. Ngồi đò ngang qua sông trên chiếc sõng rẽ sóng nước lăn tăn tôi nhìn thấy xung quanh tôi trong ánh trời buổi mờ đất bao cảnh vật hãy còn say ngủ: bờ bụi ngủ sông ngủ những chiếc thuyền neo hai bên bờ sông kia còn ngủ. Chỉ có con đò của ông Bầu Sáo là đã thức dậy sớm. 

         "Bến sông Đập Đá là một cảnh trên bến dưới thuyền đò chạy trên sông như thoi đưa. Từ sáng sớm cho tới chiều tối đò dọc chở măng le trầu nguồn... từ An Khê Vĩnh Thạnh xuôi xuống; chở cá nục cá mòi... từ Gò Bồi Phước Lý ngược lên; đò ngang chở những hàng những người đi chợ từ mọi làng quê đổ về. Khách thương hồ khách tài tử phong lưu nhiều người không rõ quê quán cũng theo những chuyến đò mà đổ về Đập Đá để làm ăn kiếm lời và để ăn chơi. Ăn chơi ở Đập Đá là ăn chơi với thị dân đất kinh thành Hoàng Đế cũ họ vừa lịch sự vừa nhiều tiền có rượu ngon và gái hầu rượu đẹp".

         Ông anh họ vẫn thức đến qúa khuya để kể tiếp về câu chuyện mà anh đang nhiệt thành và say sưa.

         "Vùng quê này ở đâu có bến sông con đò ở đó có phố chợ có lều quán có cảnh bán buôn. Chợ Gò Chàm thị trấn Đập Đá chợ Phú Đa chợ Cảnh Hàng thủ phủ An Thái... đều như vậy. Bao thế hệ người Hoa đi đường biển vào cảng Thị Nại rồi từ đó mà theo sông Côn lên tận An Thái để sống đời định cư và góp phần cùng người Việt bản xứ tạo nên sự mở mang và phồn hoa đô hội cho quê mới của mình. Chẳng bao lâu nơi này đã có bao điều nổi tiếng: Roi Thuận Truyền quyền An Thái (roi là môn võ nghệ của người Việt quyền là môn võ nghệ của người Hoa) bún Song thằng giấy bản hàng tơ lụa... và nhất là lễ hội Đổ giàn diễn ra vào Rằm tháng Bảy hằng năm. Ngày thường bến sông An Thái đã đông ghe thuyền mà đến những ngày có lễ hội nhất là lễ hội Đổ giàn thì đông vô số kể: Rủ nhau đi hội Đổ giàn / Vui thì vui lắm đò ngang chật đò - Ca dao".

         Tôi nối tiếp câu chuyện của ông anh họ: - Bến sông Trường Thi đã đi vào lịch sử thi cử triều Nguyễn và vào văn học... Bến Trường Thi ở trước trường thi hương Bình Định (dành cho 4 tỉnh Bình Định Quảng Ngãi Phú Yên Khánh Hòa và hoạt động từ 1852 - 1918). Bên này là thành Bình Định có nhà của đôi bạn thi sĩ Yến Lan Chế Lan Viên; bên kia là trường thi hương làng Hòa Nghi thuộc xã Nhơn Hòa quê ngoại của Yến Lan. Bến Trường Thi nối quê nội với quê ngoại của nhà thơ và đó là cái bến sông quê trong một bài thơ nổi tiếng: Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách / Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu  (Thơ Yến Lan). Không có những bến sông quê Bình Định chắc khó có cái bến sông trăng cực kỳ lạnh buốt mà diễm ảo trong thơ của một nhà thi sĩ thuộc trường thơ Bình Định: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay? -Hàn Mạc Tử.

           Đi loanh quanh ở thị trấn Bình Định mấy ngày một hôm nhờ có ngọn gió bến sông Tân An và đồng An Ngãi thổi lên đưa tôi đến nhà người cháu ngoại cụ Cử Nhì làng Thái Thuận. Ông bạn này uống cà phê bên lầu Cửa Đông thành Bình Định với tôi anh nói: - "Anh đi tìm những bến nước con đò hả? Nghe sao mà nên thơ! Hồi xưa tôi đã có nhiều dịp đi thuyền từ đập Bờ Đỗ thuộc hạ lưu sông Côn lên tận Cây Cốc thuộc thượng nguồn sông Côn. Cây Cốc là tên dân gian hồi xưa quen dùng để gọi thị trấn Phú Phong nơi có cây cổ thụ là cây cốc và miễu Cây Cốc. Đi tới đâu tôi cũng thấy cảnh "thuyền ta ngược thuyền ta xuôi" những ngã ba sông rộng mênh mông và những bến sông mát rượi bờ tre con nước cho những chiếc thuyền cắm sào đậu và những chiếc thuyền từ đó lao vút ra giữa sông chọn hướng rồi trương buồm phăng gió rẽ nước ra đi... Trong các làng quê ít có nhà không có sẵn chiếc sõng nan. Chiếc sõng thường được úp lơ lửng trên hai vì kèo chuồng bò hoặc trên hai con ngựa gỗ đặt nơi đầu hè nhà trong mùa nắng để đợi đến mùa mưa lũ "hạ thủy" mà vật lộn với đồng ruộng ngập lũ trắng lăng hoặc "nhàn du" với Tiếng sáo vo ve triều nước vọng" -Thơ Nguyễn Khuyến.

          Quán cà phê bên lầu Cửa Đông buổi sáng Chủ nhật đông người. Uống tách cà phê sóng sánh màu nâu tiếp lời ông bạn tôi nói: -Tôi cũng đã đi qua những cầu tre vắt vẻo cầu khại khó qua. Những chiếc cầu đó ra đời thường vì có ông chủ ruộng muốn đi thăm những đám ruộng của mình ở bên kia sông vì hai họ kết thông gia cách trở bởi con sông mà lại muốn năng đi lại với nhau... Nhưng cũng có những chiếc cầu từ thiện cầu "làm phước" như cầu mang tên cầu Phật giáo ở làng Thanh Giang (Nhơn Phong An Nhơn) do nhà chùa bắc cầu Bà Gi do một người đàn bà tên là Đỗ Thị Gi bắc (nay cầu này là cầu bê - tông cốt thép trên Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Phước Lộc - Tuy Phước mà vẫn giữ tên cũ) ông Cử nhân Phan Ý bắc cầu Ông Ý ở làng Háo Đức (Nhơn An An Nhơn)... Cũng như bến nước con đò những chiếc cầu tre ấy thật gần gũi với bao tâm tình của người ta: Qua cầu ngả nón trông cầu / Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu - Ca dao. Con trai con gái yêu nhau mà không có cầu thì làm sao cởi áo cho nhau... để rồi dối cha dối mẹ rằng qua cầu gió bay... rất ư là chân quê mà diễm tình.

          Nay mọi chuyện đã khác hết rồi. Mạng lưới giao thông đường bộ nông thôn mở rộng đâu cũng đường nhựa đường bê - tông cầu bê - tông cốt thép và đường nào cũng nhộn nhịp xe cộ. Còn sông thì cạn tù đọng (không còn là sông trôi) có khúc con kiến như bò được qua sông... Lớp trẻ bây giờ không biết chiếc sõng nan thì đừng hỏi có biết không bến Trường Thi bến đò Tân An bến đò Thị Lựa... vốn thân thương ngày nào!

(1)Kinh đô của vua Chămpa (với thành Đồ Bàn) và kinh đô của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc (với thành Hoàng Đế) đều đặt trên đất này.

        

                                                                                              H. K. B

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu

162 / 32 / 18 Nguyễn Thái Học TP Quy Nhơn tỉnh Bình Định.

ĐT: (056) 524406   DĐ: 0958 501562