Bút ký Thương về làng cũ

                                 Bút ký Huỳnh Kim Bửu
 

                Thương về làng cũ

      

         Người ta gọi bờ tre làng là "lũy" tre. Lũy tre làng An Định cùng với cổng làng xây gạch là "thành lũy"  bảo vệ cuộc sống yên vui cho bao thế hệ dân làng.

Làng tôi có bốn xóm. Giữa các xóm ngăn cách nhau bởi mấy đám ruộng con mương xanh nước chảy nổi phập phù mấy khúc cây dừa cây cau bắc qua làm cầu. Đồng làng gồm có cánh đồng trước (đình) cánh đồng sau (đình) tạo thành đôi cánh của loài chim đại bàng cho làng cất cánh bay lên giàu có như ước nguyện của bao đời người trong làng. Trong đồng làng có thêm cái ao sen rộng ở giữa nở hoa rực rỡ và ngát hương thơm suốt mùa hè... 
                                                         

         Người nông dân làng quê tôi làm mùa: Tháng ba gặt hái cấy cày trong cảnh trên nắng dưới nước nhiều năm cấy xong cây lúa gặp hạn tát nước dài tay; tháng mười làm công việc đồng áng dưới trời mưa to gió lớn lụt trắng đồng... Má tôi là thợ cấy bà vẫn cầu Trời:

 Người ta đi cấy lấy công / Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề... (Ca dao).

         Vừa xong việc mùa màng người ta bắt tay làm đủ các nghề phụ: chằm nón lá hàng xáo giũ rạ đánh tranh... Không có nghề nào tội nghiệp bằng nghề giũ rạ để có hạt lúa ẩm mốc của đống rạ đem về ăn bưng chén cơm ăn mà nghe mùi rạ ẩm mốc bốc lên từ chén cơm! Cả xóm miễu Tây (xóm họ ngoại tôi) làm nghề cẩn xa cừ trải mấy đời. Người ta cũng đi tới làng khác làm nghề phụ như lên Phương Danh làm thuê nghề dệt lên Bằng Châu Bả Canh - đúc đồng vào chợ Bình Định - bịt trống da trâu lên Nam Tân - làm rèn...Trước khi làm nghề ai cũng phải trải qua học nghề. Ông Cửu Dự học nghề cẩn trên Cẩm Văn rồi mang về truyền cho con cháu trong nhà trong tộc họ Nguyễn chẳng bao lâu lan rộng ra cả làng An Định.

           Điều hành việc làng có hương lý (gồm lý trưởng phó lý hương kiểm hương mục...). Trên hương lý có Hội đồng kỳ mục gồm các bô lão. Ông Ngoại tôi cũng được dự vào hàng bô lão. Việc làng được đưa ra đình để toàn dân bàn bạc. Việc đã được quyết định rồi dẫu có trái phép vua cũng thực hiện (vì trên cho Phép vua thua lệ làng). Hương lý làng An Định ai giàu có thì của nả đáng kể cũng chỉ ngôi nhà cặp tranh ba gian hai chái mấy đám ruộng sâu đôi trâu nái một đụn rơm to... Hồi biến động 1908 cả làng vào hết thành Bình Định nhập vào cả phủ cả tỉnh đòi giảm sưu cao thuế nặng. Và cũng bao trai trẻ trong làng đầu vào Nghĩa quân Văn thân của Mai Xuân Thưởng.  

            Có mấy vùng quê giàu có đâu! Làng tôi cũng là một làng nghèo. Ngoại tôi cất ngôi nhà tranh vách đất ngoại mong đó là chuyện bách niên (đời người chỉ một lần như chuyện cưới gả chuyện tang ma) tức là cầu cho cái nhà đó được ông bà ngoại ở trọn đời rồi còn truyền cho con cháu nhiều đời kế thế ở. Vàng bạc rất qúy hiếm. Bên nội tôi mấy đời người chỉ sắm được một cây kiềng vàng vài phân. Với cây kiềng vàng đó ông nội đi cưới bà nội rồi luân chuyển bà nội đem đi cưới má về làm con dâu má đem đi cưới chị dâu chị dâu đem đi cưới em dâu... Tôi vẫn được ông bà dạy bảo rằng hạt cơm là hạt ngọc. Câu ca dao: Ai ơi bưng bát cơm đầy /  

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần in trong sách Quốc Văn lớp Đồng ấu được tôi thuộc lòng từ thuở tóc để chỏm. Ngày tháng phong lưu của làng tôi là những khi được mùa cánh đồng làng dâng một mùa vàng cho lúa thóc đầy bồ "cho bát cơm đầy khúc cá to". Làng An Định thuộc khu Đông của Phủ An mà Khu Đông thì được tiếng "gạo trắng nước trong".        

            Đình làng có "Xuân kỳ Thu tế" miếu xóm  có lễ "Thanh minh trong tiết tháng Ba" chùa Thiên An có lễ Vu lan Rằm tháng Bảy... Đó là các lễ hội hằng năm của làng An Định mà các làng cũng thế. Chưa tới ngày lễ hội người ta đã náo nức. Người trong làng hớn hở đi lễ hội người các làng khác cũng đổ về. Người ta dự cúng tế ăn uống theo tập tục "một miếng thịt làng bằng một sàng xó bếp" tham gia các trò chơi các cuộc tranh tài (đô vật kéo co đánh đu... ) được gặp gỡ giao duyên mời trầu... Người làng tôi còn đi dự các lễ hội ở nơi khác như lễ hội Đổ giàn ở An Thái lễ hội chùa Linh Phong - Núi Bà lễ hội chùa Bà - Cảnh Hàng lễ hội chùa Kén (thờ vị Tổ nghề dệt) ở Phương Danh lễ cúng Tổ nghề đúc đồng ở đình Bằng Châu... Và lễ hội Chiến thắng Đống Đa ở Tây Sơn lễ hội lớn nhất trong năm. Các ngày Tết nhất là Tết Nguyên Đán trong không khí thiêng liêng các gia đình vui vầy trong cảnh đoàn tụ. Trẻ con chúng tôi mong Tết nhất vì chúng được nhận tiền mừng tuổi xúng xính quần áo mới được miễn bị đòn (vì đó là tục ngày Tết). Nội ngoại tôi cũng như những người cao niên khác trong làng được ra đình lên chùa để được trọng vọng (theo tục trọng xỉ ) được thanh tịnh cõi lòng.        

            Người làng thích xem tuồng hô bài chòi hát dân ca...Trong dịp Xuân kỳ Thu tế ở đình làng thế nào cũng tổ chức hát bội. Có mấy bản tuồng hay (Cổ thành San hậu Tam nữ đồ vương...) người ta vẫn xem đi xem lại. Ông Phụng Chẩn lập gánh hát bội ở trong làng gọi là Gánh hát Bầu Chẩn đi hát đình hát đám của các tư nhân khắp trong vùng Phủ An. Tôi thường đi theo người lớn đến những buổi hò hát: Hò giã gạo cấy lúa đêm trăng hò kéo gỗ trên sông... Ba - má tôi là một trong nhiều cặp con trai con gái nhờ gặp nhau trong những đêm trổ tài hò đối đáp giã gạo mùi mẫn mà nên duyên vợ chồng. Hò hát của họ thường là những câu ứng tác bắt đầu bằng những từ cụm từ: Ngó lên Trèo lên Bớ anh Này chị... Và có lệ bắt buộc: Tới đây chẳng hát thì hò  / Há phải con cò ngóng cổ mà nghe (Ca dao).

          Lúc rảnh rỗi ngồi chơi người ta hay kể chuyên tiếu lâm chuyện đời xưa nói tuồng tích... Đến lúc cao hứng thì hát chơi mấy câu Nam Khách Lý mọi hô bài chòi giọng cũng thanh tao đúng làn điệu lắm... Lũ trẻ con hát đồng dao... Thằng Cu Tý con Nhài con Lệ ứng tác giỏi nhiều câu hay khó quên: "Chị kia má đỏ hây hây /  Đợi ai ra đứng ngó mây trông trời" . Rồi: "Ông Tây nói chuyện (với) bà Đầm /  Nghe tôi rao kẹo ầm ầm chạy ra...". 

            Trong các gia đình dù là nhà nhỏ hay nhà to cũng có một không gian thờ phượng không gian văn hóa thường bố trí ở nhà trên. Nơi đó bài trí bàn thờ gia tiên với những đồ chân đèn bát nhang treo những hoành phi liễn đối tranh tứ bình... đầy những câu chữ giáo huấn đạo làm người triết lý những lẽ vũ trụ nhân sinh tả những phong cảnh đẹp... Và bên cạnh đó là những giá sách chất cao những Tam thiên tự Ngũ thiên tự Quốc văn giáo khoa thư Luân lý giáo khoa thư... Cả truyện cổ dân gian Việt Nam và tiểu thuyết chương hồi bên Trung Quốc nữa. Nhà khá giả như nhà quan hưu trí Trần nhà Phán Sanh Thừa Hỷ... còn lập cả thư phòng viện sách. Sách nhiều mà người biết chữ ít thì ai đọc sách? Sách chữ Nho người già đọc. Sách giáo khoa học trò trường làng trường tổng trường phủ học. Sách truyện sắp nhỏ học trò đọc cho cô bác ông bà nghe. Bà Bếp Nầy mê truyện Tàu những hôm đi chợ Phủ thế nào cũng mua sách đem về nhờ "Sắp nhỏ đọc cho nghe" lời bà. "Sắp nhỏ" ấy là tôi và lũ thằng Cu Nheo Cu Hoát đang học Tiểu học trường Phủ. Người có học làm hiển vinh gia đình tộc họ làng xã. Làng trích ruộng nhất đẳng điền làm học điền để trợ cấp cho người đi học. Ông Cử Nghị ông Thừa Hỷ và nhiều người nữa nhà nghèo hiếu học nhờ hưởng học điền mà được đi học và thi đỗ người trở thành ông Cử ông Tú chữ Nho đi làm quan làm thầy đồ; người lấy bằng Thành chung Tú tài Tây học được bổ làm công chức ở Ty này Sở kia.  

            Người ta sống thủy chung với làng xóm. Vì ai cũng biết nơi đó mình chôn rau cắt rốn tổ tiên và các đấng sinh thành ra mình sống và an nghỉ đời đời. Vì lẽ mưu sinh ai đó phải  rời làng đi xa và dầu có thành đạt đến đâu ít ai tránh khỏi mặc cảm "tha phương cầu thực". Các bậc được bổ đi làm quan như ông Phủ Trần Lãnh binh Sự Phán Sanh... khi thi đỗ được bổ quan thì về làng làm lễ vinh quy bái tổ; cuối đời về hưu cũng quay về làng sống với họ hàng làng xóm không phân biệt sang hèn: "Chú đáo bên đình lên với tớ / Ông từ xóm Chợ lại cùng ta" (Nguyễn Khuyến).

          Ai đi qua khỏi đèo Cù Mông đèo An Khê bị coi đã đi vào cõi xa xăm mù mịt "khuất núi" rồi! Về nhà chồng để sống hạnh phúc lứa đôi nhưng chị tôi không nguôi nhớ mẹ và nhớ quê: Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều (Ca dao).

            Bây giờ làng quê tôi có nhiều đổi khác. Mới rồi tôi về quê ăn giỗ ngoại. Ngồi nhà từ đường hai tầng mới xây cỗ giỗ dọn lẩu ca ri bánh mì bia Sài Gòn món tráng miệng bánh kem bánh bích quy... Chứ không dọn củn mận xào khô da trâu rượu Bàu Đá cơm trắng cá ngon cho tráng miệng bánh ít bánh in bánh thuẫn... như hồi xưa. Cái này cùng với bao cái khác đang lui dần vào ký ức của chúng ta về một làng quê cũ.

H. K. B

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu 162 / 32 /18 Nguyễn Thái Học Quy Nhơn - Bình Định. ĐT: 0958 501562.