Bút ký Chén ngoài đồng

 Bút ký của Huỳnh Kim Bửu
 

"Chén" ngoài đồng
  

            Người quê tôi hay nói: "Có làm có ăn". Nhà nông làm lụng nhiều vào các vụ mùa và đó cũng là lúc "rộ" lên cái ăn. Năm có hai mùa cắt hái cấy cày là mùa tháng ba và mùa tháng mười ăn uống "vô tư" nhất là ở mùa tháng ba. Bởi vì tháng ba đang còn tiết Xuân đất trời đẹp cái dư âm dư vị ngày Tết chưa phai lễ hội tháng ba vừa mới bắt đầu và hãy còn tiếp tục... Kể chi tháng mười mưa dầm gió bấc đường sá lầy lội tâm thế hoàn cảnh con người khác không thích hợp với việc ăn uống ngoài đồng.
 

           Cũng như bao làng quê khác ở trong vùng Phủ An   làng An Định đang vào vụ tháng ba. Sáng ngày ra đồng gặt vừa xong một đám ruộng thợ gặt ngồi vệ cỏ đường làng nghỉ giải lao chờ gặt đám khác. Bổng đâu cất lên: "Có ai đậu hũ khô...ng?" "Có ai bánh gói bánh xèo khô...ng?". Tiếng rao thanh trong lảnh lót của các bà hàng rong chưa dứt từ trong nhóm thợ gặt đã cất tiếng kêu: "Có..." "C ...ó...". Dọc con đường ra đồng mọc lan mặt đường những cây dứa dại ổi tàu cỏ gà cỏ gấu khách thăm làng gặp không biết bao người làm đồng đang ngồi bên gánh hàng rong ăn quà sùm sụp. Họ ăn quà và họ kháo nhau: "Có nghèo cũng ngày Tết / Có hết cũng ngày mùa" họ mắng yêu nhau: "Mỏng môi nói láo dày môi ăn hàng" nói "triết lý" với nhau: "Có thực mới vực được đạo" "Dĩ thực vi tiên ăn uống phải cho liền"...

          Người làm đồng xa trên nắng dưới nước theo thói quen tới trưa thì vào xóm Trại để nương nhờ cái bóng mát bụi tre già gốc cây ngô đồng cổ thụ ngọn gió đồng phất phơ... mà nghỉ ngơi. Xóm Trại là cái xóm giữa đồng hòn cù lao của làng An Định dành cho trương tuần và dân canh giữ mùa lúa chín chống lại bọn gặt trộm lúa. Con trâu con bò cày bừa vừa mới được mở ách thả ra cũng được lừa vào xóm Trại để cho ăn cỏ và tránh nắng trưa. Những hôm công việc đồng áng rộ lên vì "nông vụ tấn thời" người nghỉ trưa ở xóm Trại đông tới năm - bảy chục người gồm đủ già trẻ gái trai. Anh thợ cày này được bà vợ đưa cơm trưa cho chồng chị thợ cấy kia được đứa con gái lên mười đưa cơm trưa cho mẹ và cũng có người mang theo mo cau cơm nắm cho bữa trưa. Rồi theo lẽ thường "lúa thóc đâu bồ câu bay theo đó" hàng quán năm ba cái cũng đi theo người làm đồng ra Xóm Trại. Hàng quán từ giữa làng nơi có cái chợ quê nép bên ngôi đình làng chuyển ra; rồi hàng các nơi khác gánh tới: Bánh canh mặn ngọt bà Điểu bún tươi bánh hỏi bánh ướt làng Ngãi Chánh đậu hũ xu xoa Bả Canh Cầu Chùa...

          Người làm đồng vào xóm Trại được ngồi ăn uống giữa tự nhiên. Họ đâu cần có mâm cỗ. Hồi nãy ra giếng khơi xóm Trại ra con Mương Đôi chảy qua xóm Trại họ rửa tay chân mặt mày vuốt nhẹ quần áo dính bùn và không quên rửa sạch cái nón lá văng lên đó những bùn đất và láng bóng giọt mồ hôi. Cái nón lá đó họ vừa lật ngửa ra vục nước sông đựng nước giếng uống; bây giờ họ cũng lật ngửa ra đặt trên mặt đất làm cái "mâm" cho bữa cơm trưa ngoài đồng. Người làm đồng ngồi đất quanh "mâm" cơm chất đầy những thức ăn và họ "nhập tiệc" không cần đủ chén đũa vá muổng... Cái nhánh ổi tàu cái cành tre tươi bẻ làm đũa cũng xong bưng cái bát canh húp cũng tiện. Họ ăn giữa trời cao đất rộng cái miếng cơm nắm theo cái món mới mua của bà hàng rong vừa đặt gánh xuống: cái cuộn bánh tráng cuốn cá phèn luộc miếng bánh gói bánh bèo bánh xèo nhưn đậu nhưn tôm thịt xào ...bệt mắm ruốc mắm cơm rắc ớt bột dằm ớt trái. Mấy người có con cá trê con cá rô bắt theo bừa hồi sáng bây giờ cũng đem ra nhóm cỏ khô nổi lửa nướng ăn liền với hạt muối trắng tinh. Nhiều hôm người làm đồng cao hứng bày trò chơi thách đấu ăn thi ăn. Ai ăn hết chồng bánh xèo tôm thịt cao mút đầu đũa của bà Hai Huấn thì được thưởng 2 giạ lúa không ăn hết phải đền 1 giạ lúa. Ai ăn hết một mâm bát vại bánh canh ngọt của bà Ba Bường được thưởng 3 giạ lúa không ăn hết phải đền 2 giạ lúa ... Cứ kiểu ấy: Ai ăn hết... Và đã không ít người thua mất nhiều giạ lúa người thắng bội thực gần chết. Họ ngồi ăn đủ kiểu: người ngồi xếp bằng như kiểu Thầy lý ngồi chiếu làng người ngồi bệt ngồi chòm hỏm kiểu anh thợ cày chính hiệu; anh ăn vội vàng chị ăn nhẩn nha; trông ai cũng ăn ngon lành khoái khẩu. Ong Tản Đà sành ăn đòi hỏi bữa ăn phải đúng bữa món ăn chỗ ngồi ăn người cùng ngồi ăn... tất thảy phải ngon thì mới có bữa ăn ngon. Bữa ăn ngoài đồng đáp ứng được yêu cầu đó của nhà thi sĩ. Vì người làm đồng đang ngồi ăn bữa trưa (đúng bữa) với bạn làm đồng của mình đang ăn những món ăn dân dã chân chất tình quê hồn quê tưởng không cao lương mỹ vị nào sánh bằng!

          Ủa sao cái gì ở ngoài đồng cũng ngon lành hay ho sung sướng hơn bội phần?

 "Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng?" (Thơ Nguyễn Công Trứ)

 "Thứ nhứt quận công thứ nhì... ị đồng" (Tục ngữ)

 "Những phường mèo mả gà đồng" (Thơ Kiều - Nguyễn Du)...

         Liệu có ai trả lời được đi dạo đồng và đi dạo phố cái nào thú hơn cái nào?

         Dùng bữa ăn ở nhà thì "chưa ăn cha rìu con rựa ăn rồi cha ngựa (phản) con giường". An ở xóm Trại cũng vậy thôi: Cái mặt đất cái thảm cỏ thay phản thay giường. An uống xong lấy cái ống tay áo phẩy phẩy mặt đất bãi cỏ (như động tác giũ giường giũ chiếu ở nhà) rồi ngả lưng ngủ. Đàn ông ngủ nón úp mặt; đàn bà ngủ nón úp ngực; gió là quạt là màn hơn cả quạt máy màn tuyn trong các nhà nông thôn ngày nay. Ai không ngủ thì ngồi đấy tiếp tục ăn quà vặt tiếu lâm chuyện đời tán gẩu chuyện ăn ngon: "Ech tháng ba gà tháng mười" (Tục ngữ) "Thu ăn măng trúc đông ăn giá" (Nguyễn Bỉnh Khiêm)... Mấy anh chị giọng tốt kể vè Chàng Lía kể thơ Lục Vân Tiên hát Nam ai Nam xuân lý mọi lắng tai nghe tiếng con chim cườm gáy ngọn cây tre ngọn cây ngô đồng nghe tiếng gió xào xạc thổi qua cánh đồng vừa thơm mùi bông lúa chín vừa ngai ngái mùi bùn. Mấy tay trai trẻ hay nghịch hay đùa lấy tay cầm hòn sạn kẽ mặt đất những bàn cờ hùm cờ ngay cờ chém... cầm liềm cắt cọng rạ ngắn dài khác nhau làm quân cờ rồi mỗi bàn tụ 4 tụ 5 lại chơi cờ. Chơi cờ "đột" anh thua đưa đầu gối cho anh thắng cầm cú tay đột... Đột bao nhiêu cái có đến sưng đầu gối hay không tùy giao hẹn trước.

          Buổi trưa đã dần trôi cô hàng cốm Cát Tường (con mắt liếc có đuôi anh thợ cày đẹp trai làng An Định) đem lúa (lúa đổi cốm) ra giê trước cơn nồm rộ vừa mới nổi lên.

          Bây giờ là thời hiện đại xe máy của người làm đồng dựng trên bờ ruộng đổ bêtông cho nên không còn những đồng xa nữa. Vả lại ăn uống ngoài đồng phải ăn uống những món dân dã theo kiểu dân dã mới ngon. Cơm nắm gói mo cau đến bữa ngồi xuống thảm cỏ xanh rờn mở banh mo cau ra tay cầm con dao xắt lát cơm cầm lát cơm trắng mịn như lát chả giò Chợ Huyện chấm muối vừng muối đỗ ăn; phải ngon hơn cơm hộp là chắc. Ăn uống ngoài đồng nay trở thành kỷ niệm êm đềm và khó quên của lớp người có tuổi quê tôi.
H. K. B