Bút ký Thương hoài nón trắng

Bút ký - Huỳnh Kim Bửu


Có phải chăng nguồn gốc của chiếc nón là cái lá đội đầu: "Những buổi học về không có nón / Đội đầu chung một lá sen tơ" (Nguyễn Bính).


Quê tôi có nghề làm nón còn gọi là nghề chằm nón có cái chợ nón nổi tiếng đã đi vào câu hát ca dao: "Em về Đập Đá quê cha / Gò Găng quê mẹ Phú Đa quê chàng".Nghề nón là nghề của người phụ nữ cần mẫn khéo tay.

Người thợ nón kết nan nón vào khung nón sao cho tinh tươm nuộc chỉ tạo ra cái sườn nón cân đối không lệch chỗ nào rồi chằm từng lá kè một vào sườn nón sao cho kín mũi kim thẳng đường chỉ. Có câu nói: "Người làm sao nón bảnh bao làm vậy" để chỉ cho cái mối liên quan giữa cô thợ và chiếc nón cô làm ra. Trong hộ chằm nón có sự phân công rõ ràng: Bà mẹ đã lệch đường đáy thắt lưng ong thì chằm nón trảng nón trủm là loại nón thô; cô con gái xinh má lúm đồng tiền của bà thì chằm chiếc nón thanh tao là nón chóp nón trắng. Thợ làm nón ngựa là thợ kén: Cả hai làng nón Kiều Đông Kiều Nguyên (Phù Cát) chỉ được mấy hộ đếm trên đầu ngón tay.
Trước khi xuất quân ra Thuận Hóa rồi thần tốc ra giải phóng Thăng Long vua Quang Trung - Nguyễn Huệ cho kiểm tra kho quân trang thấy thiếu nón bèn ra lệnh truyền cho thợ nón trong vùng Phù Cát An Nhơn phải khẩn trương làm nón đủ cho nghĩa quân đội. Chỉ trong vòng mấy ngày mà người ta đã nộp cho quân Tây Sơn đến vạn chiếc nón. Nón ngù chỉ vàng sơn đỏ mặt ngoài đề bốn chữ "Nghĩa quân Tây Sơn" viết mực xạ chóp ôm sát đầu vành hẹp. Hồi nhỏ gặp lính thú về làng mặc quân phục: "Ngang lưng thì thắt bao vàng / Đầu đội nón dấu vai mang súng dài" (Ca dao) lũ trẻ con chúng tôi thấy lạ chạy theo coi dài như cái đuôi anh lính thú.
Chiếc nón trắng làm xong phết lên một lớp dầu trong thì nón sáng ngời lên đội ra mưa nước mưa trôi tuột như "nước đổ lá khoai". Nón trắng quê tôi sáng nhẹ thanh chẳng thua kém gì nón bài thơ xứ Huế. Thời niên thiếu tôi đã ở Quy Nhơn. Nhớ một thời thành phố mỗi ngày thức dậy sớm bởi tiếng guốc khua vang của những nữ sinh đến trường trong tà áo dài trắng tóc thề nón trắng cặp sách trên tay...Nhớ tháng ba mùa gặt đến dưới trời quê nắng trong những người thợ gặt ra đồng gặt lúa: nón trắng nhấp nhô trên cánh đồng vàng.
Một kiểu nón khác là nón ngựa. Nón ngựa nhuộm vàng chóp nón tua tủa cái ngù chỉ đỏ như cái mào của chú gà trống thiến mặt trong nón thêu hoa văn cổ: hình cuốn sách - cây bút lông bướm vàng bướm trắng câu chữ Hán Vinh - Hoa - Phú - Qúy hoặc Phước - Thọ - Khang - An... Nón cho đàn ông đội rộng vành hơn nón cho phụ nữ. Nón này vừa đắt tiền vừa không chịu mưa nắng cho nên chỉ đội trong các dịp lễ tết. Những nàng "Da thơm là phấn môi hường là son" mà đội nón ngựa đi du xuân thì chớ trách "Em đi chàng theo sau"(Chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp).
Nón ngựa chóp chụp bạc dành cho người quyền qúy. Nón là sản phẩm "hợp tác" của những người thợ nón quanh chợ Gò Găng và mấy hiệu thợ bạc ở các chợ Gò Chàm Đập Đá Phú Đa Cảnh Hàng... Hồi còn thơ tôi thích nghe chuyện tiên má kể rồi đêm thường nằm mơ thấy tiên. Và tôi đã thấy một ông tiên bằng xương bằng thịt thật. Một hôm ông Cử Nhì bên làng Thái Thuận chân đi giày hạ xăm xăm chống gậy trúc đến nhà tôi trong bộ áo rộng đen đầu đội nón chụp bạc trên bộ râu tóc bạc phơ. Ông đến chơi với một ông thầy đồ là Nội tôi.
Chiếc nón thượng ở quê tôi không thấy. Nhưng hồi nhỏ tôi có thấy hình vẽ chiếc nón thượng trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư cuốn sách dạy tôi những bài học Quốc văn đầu tiên của đời tôi. Hình vẽ trong sách minh họa cho bài Học thuộc lòng "Tháng sáu buôn nhãn bán trăm" người phụ nữ mặc áo tứ thân chít khăn mỏ quạ đầu đội nón thượng mà vai thon gánh nhãn đi bán chợ xa.
Nón đội được trên đầu là nhờ có quai: "Chòng chành như nón không quai / Như thuyền không lái như ai không chồng" (Ca dao). Và cũng nhờ có quai mà các bà các cô đội nón làm duyên: "Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ" (Đông Hồ). Nón quai thao là nón của người hay e ấp chiếc nón của mình. Hình ảnh đôi cô thôn nữ mặc áo bà ba đội nón qua cầu tre lắt lẻo bắc qua dòng sông trong xanh phẳng lặng là một hình ảnh trong tranh ta thường gặp ở nông thôn. Nhưng cũng có khi đó là một hình ảnh buồn một cảnh ngộ buồn giá mà ta biết được để cùng chia sẻ: "Qua cầu ngả nón trông cầu / Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu" (Ca dao).
Từ chuyện cái nón đến chuyện cái mũ. Trong các làng quê xưa ít thấy ai đội mũ. Tôi đang học sơ học trường làng thầy trò chúng tôi đều mặc áo dài trắng chân đi guốc mộc đầu đội nón lá trắng. Rồi một hôm có ông thanh tra Tiểu học đến trường. Ong mặc thứ quần áo mà sau này lũ học trò trường làng chúng tôi mới biết đó là Au phục đi giày da đội mũ cối trắng. Thầy tôi khép nép trước ông còn lũ chúng tôi thì lấm lét sợ ông và nhìn ông rất đỗi lạ lẫm vì cái vẻ bề ngoài ấy. Rồi một ngày kia lên học trường huyện tôi và lũ bạn học thường được trông thấy từng đoàn học sinh trường Quốc Học Quy Nhơn (Ngày ấy gọi là trường Collège de Quynhon) đổ về dạo chơi thành Bình Định vào dịp cuối tuần. Họ mặc áo dài trắng đầu đội mũ cối trắng chân đi guốc mộc trông họ trẻ trung yêu đời lắm; và hình như chính họ đã xây đắp nên ước mơ học hành cho lũ chúng tôi là lớp đàn em của họ.
Ở chốn triều đình cái mũ cũng lắm chuyện. Cái mũ cái áo phẩm phục là thứ tượng trưng cho lợi danh của người chức trọng quyền cao. Người quê tôi bảo làm quan thì được "mũ cao áo dài" và tỏ ra khinh ghét những ông quan tư cách hèn kém: "Mũ cánh chuồn đội trên mái tóc nghiêng mình đứng chực của hầu môn" (Tài tử đa cùng phú - Cao Bá Quát). Ong Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo đang làm quan Triều Nguyễn thì có cuộc nỗi dậy kháng thuế cả miền Trung hồi năm 1908. Thế là ông trả áo mão cho triều đình quay về Bình Định làm thủ lĩnh phong trào kháng thuế của dân trong tỉnh lưu được tiếng thơm cho tới ngày nay.
Ngày nay đa số người ta đội mũ. Đàn ông thì đội mũ mềm mũ cối mũ lưỡi trai...Phụ nữ thì đủ các kiểu mũ thời trang hấp dẫn. Ngoài ra còn có mũ đồng phục mũ bảo hiểm mũ bảo hộ lao động bắt buộc đội. Cái nón trắng bây giờ là của riêng của các chị em lao động dầm mưa dãi nắng ở các thành thị cũng như nông thôn. Họ đội nón lấy khăn mặt làm quai cột tam giác như lá cờ nheo mặc hai áo bà ba và đeo khăn che mặt. Cái nón trắng bây giờ cũng không là của nữ sinh như ngày xưa thi sĩ đã yêu: "Tựu trường san sát chân thon / Lao xao nón mới màu sơn sáng ngời" (Nguyễn Bính).
Người quê tôi "trọng" ai thì cũng trọng luôn chiếc nón của người ấy. Lần nào ông Cử Nhì - làng Thái Thuận ông Tú tài - làng Đồi Mai các bạn già của nội tôi đến chơi nhà nội cũng ra thềm mừng rỡ "rước" nón mời khách vào nhà. Đến khi khách ra về nội trao lại nón rồi tiễn khách qua khỏi sân gạch của nhà nội.